Hãy sống vui vẻ với những điều ta yêu thích,những điều ta muốn khám phá,những việc ta muốn làm trong khuôn khổ cho phép của thời gian!

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Dân ta cần biết sử ta

Ngay khi lần giở lại các trang sử biên niên, đôi lúc không khỏi ngạc nhiên bởi ứng xử của những ông vua Trần rất… khác người!
Trong lịch sử vương quyền Việt Nam, nhà Trần hẳn nhiên là một triều đại lẫy lừng. Về võ công, đây là vương triều đã thống lĩnh quân dân Đại Việt ba lần chặn đứng vó ngựa cuồng phong của đạo binh viễn chinh Mông Cổ bách chiến bách thắng. Về văn hiến, đây là vương triều đã nhen lên ngọn lửa khai phóng, tập thành một trào lưu tư tưởng Thiền học vừa cởi mở vừa sâu sắc, mà đỉnh cao là sự xuất hiện của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Các vị vua Trần
Trong cả hai thành tựu lớn lao này, nếu phải nói đến sự đóng góp của những cá nhân xuất sắc, tất không thể bỏ qua các (không phải tất cả) hoàng đế của vương triều Trần, những con người mang chân dung kép: Là anh hùng chống ngoại xâm, đồng thời là Thiền giả uyên áo, hành sự không câu chấp.
Đó là những nhân cách có kích thước vượt trội, có tầm vóc ngoại cỡ. Không cần phải tìm sự thể hiện điều đó ở những “thời điểm mạnh” của lịch sử: Ngay khi lần giở trở lại các trang sử biên niên và bắt gặp các vua Trần trong những tình huống đời thường, đôi lúc chúng ta không khỏi ngạc nhiên và thú vị bởi ứng xử của những ông vua (có thể nói là) rất… khác người!
Trước hết là ứng xử của các vua Trần trong chuyện luyến ái hôn nhân. Trần Thái Tông (Trần Cảnh) giành được thiên hạ về tay họ Trần là nhờ vào cuộc hôn nhân (do Trần Thủ Độ dàn xếp) với công chúa Chiêu Hoàng nhà Lý. Món hồi môn ấy của Lý Chiêu Hoàng thật không hề nhỏ chút nào!
Tượng vua Trần Thái Tông.
Cứ ngỡ rằng “gái có công chồng chẳng phụ”, vậy mà khi Trần Thái Tông lấy – đúng ra là cướp – vợ của anh trai là An Sinh Vương Trần Liễu (cũng lại do Trần Thủ Độ chủ xướng), bà vợ cũ lập tức bị truất ngôi Hoàng hậu. Chưa hết, để thưởng công cứu giá của Lê Phụ Trần, ngoài chức Ngự sử đại phu, nhà vua còn “hào phóng” gả luôn Chiêu Hoàng cho người đã liều chết che tên cho mình. Nghĩa là, xem ra, với ông vua khai mở vương triều Trần này, vợ là “một cái gì đó” có thể lấy về hoặc cho đi một cách khá… thoải mái!
Chưa hết, khi Trần Quốc Tuấn (con trai của An Sinh Vương Trần Liễu) lẻn vào tư thông với Công chúa Thiên Thành ngay trước ngày cưới của Công chúa – và ngay tại tư gia của vị tân lang là Trung Thành Vương – bị phát hiện, nhà vua đã “bất đắc dĩ” (chữ trong sử) đem Thiên Thành công chúa gả cho Trần Quốc Tuấn rồi cho Trung Thành Vương hai ngàn khoảnh ruộng. Sự thiên vị quả là khá lộ liễu! Có lẽ trong trường hợp này Trần Thái Tông muốn chuộc lại phần nào cái lỗi đã cướp vợ của anh trai chăng?
Nói sao mặc lòng, cái quyết định “bất đắc dĩ” của nhà vua đã tạo nên một cảnh huống khá rắc rối trong quan hệ thân tộc của họ Trần: Trần Quốc Tuấn sẽ vừa là con trai vừa là em rể của Trần Liễu, vì Công chúa Thiên Thành chính là em gái của Trần Liễu và Trần Thái Tông!
Đây chỉ là một trong nhiều ví dụ về tinh thần “cởi mở” trong quan hệ nội hôn của vương triều Trần: Họ không lấy đó làm điều. Chẳng trách được khi về sau, cứ mỗi lần viết về việc hôn nhân của tôn thất nhà Trần, các Nho gia nghiêm cẩn như Ngô Sĩ Liên, Phan Phu Tiên hay Dực Tông hoàng đế Tự Đức đều… đay nghiến: “dâm loạn”, “buông tuồng”!
Trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất, khi vua tôi nhà Trần phải chạy giặc trên sông Hoàng Giang, gặp thuyền của một tên tiểu nhân hiệu là Cự Đà chèo ngược lại, người trên thuyền của Thái tử hỏi: “Quân Mông Cổ bây giờ ở đâu?”. Cự Đà – vốn trước kia nhà vua ban quả muỗm cho những người hầu mà quên không ban cho hắn, nên sinh bụng oán – trả lời: “Tôi không biết, các anh đi hỏi những người nào được ăn muỗm ấy”.
Giặc tan, Thái tử xin vua Trần Thái Tông trị tội Cự Đà thật nặng để răn bảo người làm tôi bất trung, không ngờ nhà vua trả lời: “Cái tội Cự Đà là lỗi ở quả nhân”, rồi tha cho Cự Đà. Nói rằng nhà vua là vị Hoàng đế có lòng nhân? Không sai. Nhưng cũng cần phải nói thêm: Đây là vị Hoàng đế có lối suy nghĩ và hành xử lịch lãm, rất cận nhân tình.
Không như những ông vua ở các triều đại sau luôn đòi hỏi thần dân lòng trung thành tuyệt đối và vô điều kiện, Trần Thái Tông hiểu rằng trung thành ở con người là một thứ tình cảm duy lý và bị điều kiện hóa. Không thể có lòng trung thành khi không có những yếu tố thuận lợi làm nảy sinh và những biện pháp khả dĩ nuôi dưỡng lòng trung thành.
Một quả muỗm, tuy là nhỏ, song nó lại là cái cho kẻ thần tử cân nhắc xem có “đáng” đánh đổi lòng trung thành với bậc đế vương hay không; và nó cũng là cái khiến nhà vua phải phản tư, rằng mình có “đáng” được nhận lòng trung thành của bề tôi hay không! Nội chi tiết này cũng đủ thấy: Để một con người “bé tí” dám “giận lây” và “trả đũa” vua nhân danh một sự công bằng trừu tượng nào đó, hẳn là cái phong thái sinh hoạt của xã hội Đại Việt thời Trần rất khoáng đạt, khoảng cách giữa hoàng đế và các thần dân chưa hề là một “khoảng cách sử thi” giống như ở các triều đại sau.
Đến giai đoạn trị vì của Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế, tức vua Trần Nhân Tông, người về sau sẽ lưu danh trong lịch sử tư tưởng Việt Nam bằng pháp hiệu Trúc Lâm đại đầu đà, có một câu chuyện nhỏ đã xảy ra.
Tượng thờ vua Trần Nhân Tông.
Số là, sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba, vua Trần Nhân Tông ban chiếu đại xá cho thiên hạ. Theo chế độ cũ, mỗi khi có chiếu đại xá thì viên trung quan (tức quan hoạn) giữ chức Hành khiển sẽ tuyên đọc chiếu thư, còn việc soạn chiếu thư sẽ do Viện Hàn lâm phụ trách. Thường thì sau khi soạn chiếu thư xong, Viện Hàn lâm phải đưa cho quan Hành khiển xem trước, để đến lúc tuyên đọc cho đúng.
Lúc bấy giờ, Lê Tòng Giáo giữ chức Hành khiển, cùng với người soạn chiếu thư của Viện Hàn lâm là Đinh Củng Viên vốn không hoà hợp. Soạn xong chiếu thư rồi, nhưng Đinh Củng Viên cố tình không đưa bản thảo cho Lê Tòng Giáo xem trước, đến ngày tuyên chiếu mới đưa cho, vì thế Lê Tòng Giáo tuyên đọc không thông. Nhà vua phải bảo Đinh Củng Viên đứng bên nhắc. Được lời như cởi tấm lòng, tiếng nhắc của Củng Viên ngày càng to dần, át cả tiếng đọc của Tòng Giáo!
Sự việc xảy ra giữa hai viên chức phục vụ trong triều đình của Trần Nhân Tông, thực ra không có gì lạ đối với chúng ta, những con người của ngày hôm nay. Điều đáng nói ở câu chuyện giữa Tòng Giáo và Củng Viên là sự tham gia của Nhân Tông hoàng đế.
Sau lễ tuyên chiếu, nhà vua cho triệu Tòng Giáo đến, bảo: “Củng Viên là văn quan, nhà ngươi là trung quan, có việc gì mà không hoà hợp với nhau đến thế? Nhà ngươi làm lưu thủ ở Thiên Trường, rươi có, quýt có, đi lại tặng biếu cho nhau thì có hại gì?”. Tuyệt không phải là việc nhà vua phân định ai đúng ai sai, “theo nguyên tắc”. Chỉ là lời “tư vấn” mà thôi. Và cũng chẳng hề có chút nào hơi hướng quan phương trong nội dung “tư vấn” của Trần Nhân Tông.
Nhà vua giúp Lê Tòng Giáo giải quyết xích mích với Đinh Củng Viên không bằng tư cách của một vị Hoàng đế, mà là bằng tư cách của một người lão thực về nhân tình thế thái.
“Con rươi, quả quýt”, món quà biếu quá vặt để bị xem là của hối lộ (sự đảm bảo về danh dự cá nhân), ấy thế nhưng là thổ sản của một vùng quê, nó có thể chuyển tải sự thành tâm của người biếu tới người được biếu, nhờ đó làm cho quan hệ giữa hai người trở nên tốt đẹp hơn (sự đảm bảo về mục đích), vậy hà cớ gì không làm? Trước câu “mách nước” thấu tình đạt lý ấy, ông vua khó tính đến như Tự Đức cũng phải tâm đắc mà phê rằng: “Ông vua này có thể gọi là thiên tử hoà giải”!
Vua Trần Nhân Tông rời ngai vang đi tu
Cũng là ông “thiên tử hoà giải” này, khi cần, sẽ trở nên rất sắt đá. Sử chép rằng, trận thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, quân ta bắt được các tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc và Phàn Tiếp. Với Cơ Ngọc, nhà vua sai tòng nghĩa lang là Nguyễn Thịnh đưa trước về Trung Quốc. Phàn Tiếp bị bệnh chết, nhà vua hoả táng rồi cấp cho vợ con hắn đôi ngựa sai chở hài cốt mang về. Còn với Ô Mã Nhi, Trần Nhân Tông cấp thuyền cho hắn về cố quốc. Trên đường đi, thuyền bị đắm khiến Ô Mã Nhi chết đuối.
Sau đấy, nhà Nguyên có thư chất vấn và “hỏi tội” vua nước Nam về cái chết của Ô Mã Nhi, thì được Nhân Tông hoàng đế trả lời như sau: “Vì thuyền rỉ nước bị đắm, quan tham chính sức vóc to lớn, không sao cứu vớt được, thành ra chết đuối”. Đó là lối ứng xử hợp với lẽ phải thông thường, nhất là trong hoàn cảnh của một đất nước vô cớ bị ngoại bang giày xéo và lăng nhục tới lần thứ ba.
Nhưng, với tư cách chủ thể quốc gia, nhà vua vẫn có thừa thận trọng để tỏ thái độ trước Hoàng đế nhà Nguyên. Nói khác đi trong bức phúc thư là một cách nói khôn khéo, không làm tổn thương đến lòng tự ái của thiên triều. Và có thể cho rằng, nó cũng chính là ứng xử mang những nét rất đặc trưng trong quan hệ với đế quốc Trung Hoa của tất cả các vị vua sáng trong lịch sử Việt Nam.
Đến đời Trần Minh Tông, sử quan đã kịp ghi lại một “xen” đối thoại khá thú vị, qua đó hậu thế khả dĩ nắm được phần nào con người tinh thần của ông vua mà Phan Phu Tiên từng cho rằng “có tư chất nhân hậu”.
Khi có người dâng sớ nói rằng hiện dân gian có nhiều kẻ du thủ du thực, đến tuổi già vẫn không có tên trong sổ bộ, mà lại không đóng góp phu thuế và sưu dịch, thì vua trả lời: “Nếu không như thế thì sao gọi là cảnh đời thái bình? Nhà ngươi lại muốn ta bắt chúng nó làm nên trò trống gì nữa?”. Một cách nghĩ không thể “hiện đại” hơn được nữa!
Trong sự hình dung của vua Trần Minh Tông, “cảnh đời thái bình” – một xã hội không chiến tranh, có trật tự, kỷ cương – không phải là một xã hội mà tất thảy mọi thứ đều nằm trong khuôn phép, đều được “mã hóa” nhất nhất theo một nguyên tắc có sẵn. “Cảnh đời thái bình” chỉ thực sự là cảnh đời thái bình khi trong đó tồn tại những mảnh vụn bị văng ra và không chịu lực hút của quỹ đạo hướng tâm (tất nhiên, với điều kiện là những mảnh vụn ấy không trở thành những phản lực).
Vua Trần Minh Tông (1300 - 1357 )
Những kẻ du thủ du thực nói trên, trong cách nghĩ của Trần Minh Tông, chính là những “vật trang sức” cho chế độ: Nó cho thấy sự bao dung của nhà cầm quyền trong việc chấp nhận sự tồn tại của cái ngoài khuôn khổ, nó chứng minh khả năng chung sống của cái chính thống với cái dị kỷ.
Và, đây mới thực là điều quan trọng: “cảnh đời thái bình” phải được/ bị điều kiện hóa bởi những “lỗ thông hơi” cho phép con người sống trong đó có thể (đôi lúc) hô hấp bằng những luồng không khí khác. Xem ra, cách nghĩ của Minh Tông hoàng đế cũng không khác là mấy với cách nghĩ của con người sống trong các xã hội dân chủ hiện đại, dù ông là người của hơn 600 năm trước!
Trên phương diện lịch sử, cho đến hết thời Trần, Nho giáo vẫn hoàn toàn chưa được xác nhận và chưa được triển khai trong đời sống như một hệ tư tưởng chính thống. Bản thân các vua Trần – nhất là một số vị như đã kể trên – về tư tưởng, chính là những Thiền giả. Bởi thế mà khi vận hành phương châm trị nước gồm bốn chữ “Khoan, Giản, An, Lạc”, các vua Trần đã hiện diện xuyên qua lịch sử như là những nhà cầm quyền với lối suy nghĩ và cách hành xử đầy cởi mở, phóng khoáng, không câu nệ, không định kiến, và đặc biệt là gần dân.
Phong thái đế vương kiểu này không hẳn đã nhận được sự tán thành của lớp sử gia – Nho thần đời sau, những người luôn bị ràng buộc bởi các khái niệm “chính”, “danh”, “lễ” v.v… Nhưng nó gần với chúng ta, những con người của thế giới hiện đại, và vì thế mà phải chăng có thể nói rằng, triều Trần với những ông vua “khác người” hình như chưa bao giờ là cũ?
(BANTG)
Tin liên quan
Lịch sử Việt Nam

Thứ Năm, 17 tháng 1, 2013

Giải mã nỏ thần AN DƯƠNG VƯƠNG

Giải mã khoa học về tác giả chiếc nỏ thần thời An Dương Vương

(Dân trí)- Cao Lỗ là một danh tướng dưới thời An Dương Vương. Ông là người đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Từ lịch sử nhìn lại, cuộc đời ông nhuốm đầy màu sắc huyền thoại…

Nhằm tưởng nhớ những đóng góp to lớn mà vị tướng tài ba Cao Lỗ, dưới thời An Dương Vương dựng nước, Bộ VH TT & DL phối hợp UBND Tỉnh Bắc Ninh, Hội khoa học lịch sử VN đã tổ chức hội thảo mang tên Cao Lỗ - Danh tướng thời dựng nước. Đến dự cuộc hội thảo có chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các nhà sử học Việt Nam.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại hội thảo:“Đây là hội thảo rất có ý nghĩa nhằm tôn vinh công đức của Tướng quân Cao Lỗ, của những bậc tiền nhân có công với dân, với nước là đạo lý truyền thống của dân tộc ta, là nền tảng văn hóa tinh thần làm nên sức mạnh vô địch, sức sống trường tồn của đất nước ta”.
Chủ tịch nước cho rằng: “Danh tướng Cao Lỗ tuy đã ở cách chúng ta hơn 2 thiên niên kỷ song cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn luôn sống mãi trong tâm trí mỗi người, với biết bao thăng trầm của lịch sử, qua các thời đại với muôn vàn màu sắc vừa lịch sử, vừa huyền thoại vô cùng phong phú”.
 
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại hội thảo về danh tướng Cao Lỗ
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại hội thảo về danh tướng Cao Lỗ
Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Danh tướng Cao Lỗ là người có công lớn dưới triều vua An Dương Vương, giúp vua An Dương Vương dựng nước và giữ nước Âu Lạc, đã hiến kế với nhà vua dời đô xuống đồng bằng và giúp nhà vua xây thành Cổ Loa; đặc biệt chế ra nỏ Liên Châu, mỗi lần bắn ra được nhiều mũi tên, được xem là “nỏ thần”, vũ khí thần dũng vô địch để giữ nước của Âu Lạc với lời nói được truyền tụng “Giữ được nỏ thần, thì giữ được thiên hạ - mất nỏ thần sẽ mất cả thiên hạ”.
Truyền thuyết và các bằng chứng lịch sử để lại cho thấy, danh tướng Cao Lỗ là một vị Tướng có vốn hiểu biết và có tầm nhìn sâu rộng, thấy rõ âm mưu của giặc, ông đã hết lời khuyên can vua, nhưng do vua An Dương Vương mất cảnh giác, nhà vua tin vào nội thần gian ác, đuổi Cao Lỗ và một số tướng tài khác ra khỏi kinh thành. Nhưng Cao Lỗ là môt vị tướng anh tài, không để ý chuyện cũ, nên khi thành Cổ Loa bị quân Triệu vây hãm, Cao Lỗ tự nguyện trở lại chiến đấu và ông đã hy sinh trong trận chiến ở Cửa Bắc thành Cổ Loa. Đến nay, tại đây vẫn còn ngôi miếu thờ vị danh tướng tài giỏi, trung thành. Cũng có truyền thuyết nói Cao Lỗ bị thương nặng, nhưng ôm đầu chạy qua Ái Mộ (Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội) về đến Lục Đầu mới chết. Đến thời Trần, danh tướng Cao Lỗ đã được phong là Quả Nghị Cương Chính Uy Huệ Vương.
Tại buổi hội thảo, 6 bài tham luận của 6 nhà khoa học đã được trình bày, bằng việc phân tích cuộc đời và sự nghiệp của vị tướng này. Theo Giáo sư Phan Huy Lê các báo cáo hôm nay có thể chia thành 2 loại cơ bản, thứ nhất Danh tướng Cao Lỗ trong bối cảnh dựng nước thời Hùng Vương – An Dương Vương để xác định rõ hoàn cảnh và trên cơ sở để tạo nên danh tướng. Thứ 2 là đi sâu nghiên cứu về danh tướng qua các nguồn tư liệu khác nhau, trong các mối quan hệ giữa lịch sử và huyền thoại, vai trò của Cao Lỗ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Âu Lạc, Giáo sư Phan Huy Lê nhận định.
 
Lịch sử thời Âu Lạc đã ghi nhận công lao đóng góp to lớn của danh tướng Cao Lỗ

Lịch sử thời Âu Lạc đã ghi nhận công lao đóng góp to lớn của danh tướng Cao Lỗ
Lịch sử thời Âu Lạc đã ghi nhận công lao đóng góp to lớn của danh tướng Cao Lỗ
Cũng trong buổi hội thảo các vấn đề chính được các nhà sử học triển khai phân tích như việc ra đời và việc chế tạo và sử dụng nỏ thần, bài học trong lịch sử để bảo vệ đất nước mai sau…
Tiến sĩ Nguyễn Đức Truyến chia sẻ: “ Cao Lỗ giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa là biểu tượng của sự xây dựng tinh thần thống nhất giữa các cộng đồng dân cư vùng cao và vùng thấp trong quá trình hình thành cộng đồng dân tộc VN. Sự thống nhất này đã giúp hóa giải những xung đột cộng đồng vùng miền, cho phép vượt qua những cản trở trong việc xây dựng thành Cổ Loa và mở đường cho việc thành lập nước Âu Lạc”.
GS Phan Huy Lê tổng kết hội thảo bằng nhận đinh: “Tất cả sự kiện và nhân vật lịch sử cổ đại đều bị bao phủ bởi màn sương huyền thoại như vậy. Chúng ta nên coi đó là chuyện tất yếu và cũng không nên vì bức màn bí ẩn của truyền thuyết mà mất niềm tin về sự thật lịch sử lúc bấy giờ”.

Thiên Lam

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Đình Chu Quyến

Thuộc địa phận xã Chu Minh, huyện Ba Vì, đình Chu Quyến là một ngôi đình cổ, được xây dựng từ thế kỉ XVII, góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa cho vùng đất thiêng Ba Vì và Thủ đô Hà Nội hơn nghìn năm tuổi.

Lâu nay, đình Chu Quyến được mệnh danh là ngôi đình lớn nhất xứ Đoài, thuộc làng Chu Quyến, một ngôi làng hiền hòa nằm ven đê sông Hồng. Đình Chu Quyến thờ Nhã Lang, con cả của Lý Phật Tử (thế kỉ VI) và bà thứ phi Lã Thị Ngọc Thanh, mẹ của Nhã Lang. Đình nhìn về hướng Tây Bắc, phía trước có hồ nước rộng. Đình có nhiều đặc trưng của một ngôi đình truyền thống Việt Nam như mặt bằng hình chữ nhật, cấu trúc bộ khung bằng gỗ, sàn gỗ nhiều cấp... Đồng thời, đình thuộc công trình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ của người Việt về quy mô, vật liệu sử dụng, sự kết hợp tài tình, hiệu quả giữa điêu khắc và kiến trúc.

Về kiến trúc, đình Chu Quyến được thiết kế gồm một tòa đại đình hai gian, ba chái trông sừng sững và bề thế, không có công trình phụ trợ, bổ sung nào. Mái đình xoà rộng lan xuống thấp tạo vẻ bề thế, vững chãi, các đầu đao vút cong lên làm toàn bộ ngôi đình nhẹ nhàng, thanh thoát. Mái lợp ngói ta, bờ nóc gắn hai hàng gạch, tường rộng và dày. Trong đình có sân gỗ, chia làm 3 lớp để phân ngôi thứ vào những ngày việc làng thuở trước. Xung quanh đình có tường gạch che gầm sân, có trổ các ô hình chữ nhật ở hàng lan can gỗ. Gian giữa có gian thờ, có cửa võng chạm trổ công phu hình hoa lá, rồng phượng…
 

Đình Chu Quyến có kết cấu khung gỗ chồng rường với đầy đủ sáu hàng cột, đối xứng nhau qua trục dọc nhà.
(Ảnh: Trần Huấn)




Đình Chu Quyến là công trình tiêu biểu cho kiến trúc gỗ dân gian truyền thống của Việt Nam. (Ảnh: Trần Huấn)

Những cột cái ở gian chính điện đình Chu Quyến đều được làm bằng gỗ lim, một số cột có đường kính lên tới 80cm.
(Ảnh: Trần Thanh Giang)



Các tác phẩm chạm khắc gỗ trong đình Chu Quyến hết sức cầu kì, tinh xảo và độc đáo.
(Ảnh: Trần Huấn - Trần Thanh Giang)

Các bộ phận bằng gỗ trong đình Chu Quyến là những tác phẩm chạm khắc tinh tế với nhiều đề tài phong phú, phản ánh hiện thực cuộc sống mang giá trị nghệ thuật và nghiên cứu. Trên các xà, ván nong, cửa võng đều có chạm trổ hoa văn rồng, phượng chầu mặt nguyệt, rồng vờn chầu ngọc, rồng và người, rồng và hổ, hình chim phượng và đàn con quấn quýt bên nhau. Chủ đề sinh hoạt đời sống thế kỉ XVI - XVII sống động, từ cảnh người dắt voi, uống rượu đến cảnh gảy đàn, hát múa, chọi gà... Đình Chu Quyến hiện còn lưu giữ những thần tích và các di vật cổ có giá trị lịch sử to lớn, đặc biệt là 15 đạo sắc phong của các triều Lê Trung Hưng (1533 - 1788), Tây Sơn (1778 - 1802), Nguyễn (1802 - 1945) phong thần cho Nhã Lang Vương. Đình Chu Quyến không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của người dân mà còn là địa điểm diễn ra các hoạt động văn hóa - xã hội của cộng đồng làng xã.

Do xây dựng hàng trăm năm nay, mối mọt làm hư hỏng nặng nên đình Chu Quyến cách đây không lâu đã được tiến hành tu bổ, tôn tạo, theo “Dự án thực nghiệm tu bổ tôn tạo đình Chu Quyến”. Nội dung bảo tồn rất tỉ mỉ, trong đó xác định chính xác những tác nhân gây hại để loại bỏ hoặc giảm thiểu tác nhân gây ảnh hưởng tới di tích. Kết hợp sử dụng vật liệu, công nghệ truyền thống với vật liệu, kĩ thuật, công nghệ mới để tăng độ bền vững, sự ổn định lâu dài của di tích, trên cơ sở bảo tồn tối đa các thành phần nguyên gốc cùng giá trị lịch sử, văn hóa của di tích. Đồng thời, cải thiện môi trường, phục hồi, tôn tạo khung cảnh tổng thể công trình, tương ứng với đặc điểm của di tích.
 

Đình Chu Quyến được trùng tu trên cơ sở áp dụng kĩ thuật tân tiến nhưng không xa rời yếu tố gốc.
(Ảnh: Tư liệu Viện Bảo tồn Di tích)

Đình Chu Quyến sau khi trùng tu, tôn tạo, vẫn giữ được nét đẹp cổ xưa. (Ảnh: Trần Huấn)

Công trình sau khi hoàn thành đã được Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA) trao giải thưởng về bảo tồn di sản kiến trúc năm 2010 khu vực Châu Á và Châu Đại Dương, ghi nhận thành công trong công tác trùng tu, tôn tạo, trên cơ sở sử dụng kĩ thuật tiên tiến nhưng không xa rời yếu tố gốc, vẫn thể hiện được nét đẹp cổ xưa của ngôi đình hơn 400 năm tuổi./.
                                    
Bài: Vĩnh Hưng - Ảnh: Trần Huấn, Trần Thanh Giang & Tư liệu Viện Bảo tồn Di tích

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Ngủ thăm (Người Mường Phú Thọ)

Phong tục tập quán

Kỳ 1: Đường lên bản Cỏi
Thật khó có thể tin, người Mường ở Bản Cỏi, Xuân Sơn, Phú Thọ từ hàng ngàn đời nay lại lưu truyền một phong tục hết sức kỳ lạ là tục “cạy cửa… ngủ thăm”. Mỗi khi màn đêm buông, những chàng trai chưa vợ có thể cạy cửa nhà các thiếu nữ mới lớn để chui vào tán tỉnh trong tư thế chung chăn, chung gối với cô gái. Nếu mọi chuyện tốt đẹp, cô gái ưng bụng người đến cạy cửa nhà mình, sau 5 – 6 lần ngủ thăm, chàng trai sẽ mang bạc trắng, lợn béo, rượu cần sang hỏi cô gái làm vợ…
Vốn được nghe từ một người bạn sống trên vùng cao hôm xuống nhà chơi kể lại, tôi cũng bán tin bán nghi, nay nhân có chuyến công tác lên Phú Thọ, tôi thử một phen đi tới bản Cỏi để được tận mắt chứng kiến về cái phong tục diễm tình hoang sơ này cho hả dạ.
Từ trung tâm của thị trấn Thanh Sơn (Phú Thọ) hỏi thăm đường vào bản Cỏi, bác xe ôm với vẻ mặt e ngại nói với tôi: “Bản Cỏi nằm tận cùng của xã Xuân Sơn, còn xa mới tới nơi, mà đường núi khó đi lắm, chú đi phải cẩn thận”. Nghe nói vậy cũng hơi ái ngại, nhưng sức hấp dẫn của tục ngủ thăm kia đã cứ thôi thúc mãnh liệt khiến tôi quyết tâm đi xe tới bản Cỏi cho bằng được.
Quả thật như lời bác xe ôm, đường vào Bản Cỏi liên tục những khúc quanh co, những đoạn dốc dài vài km, xe phải về số 1 ì ạch mãi mới leo hết. Nhất là khi đi vào khu vực vườn quốc gia Xuân Sơn, do cây cối bao phủ, mặt đường ẩm ướt và trơn trượt, nếu không phải tay lái cứng thật khó có thể đi qua đây được
ngu tham ban coi Khám phá tục Ngủ thăm người Mường Phú Thọ   Kỳ 1
Bản Cói – Xuân Sơn
Mất hơn 2 tiếng đổ đèo leo dốc tôi mới đặt chân được tới được Bản Cỏi, đây là nơi xa nhất của xã Xuân Sơn, khung cảnh hết sức hoang sơ, gần như biệt lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Chỉ có vài chục nóc nhà sàn chụm tập trung dưới những ngọn núi cao chót vót quá tầm mắt. Bản Cỏi một bên giáp huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình), mạn kia tựa vào huyện Phù Yên (Sơn La).
Lúc tới nơi trời cũng đã nhá nhem tối, khổ nỗi ở đây lại chẳng có lấy một nhà nghỉ hay phòng trọ cho khách thuê, tôi đành đánh liều vào xin ngủ lại ở một ngôi nhà sàn ở đầu bản. Sau khi giới thiệu, biết tôi là nhà báo, anh chủ nhà năm nay 37 tuổi, tên Hà Văn Dũng rất nhiệt tình mời tôi ở lại, còn gọi vợ lên cùng ngồi để tiếp chuyện.
Sau vài chén trà ấm, tôi mở lời hỏi về tập tục ngủ thăm kỳ lạ, nghe thấy tôi hỏi anh chủ nhà cười khoái chí “ra là nhà báo muốn viết về tập tục cạy cửa… ngủ thăm ở đây à”. Vừa tủm tỉm cười, anh Dũng vừa giải thích cho tôi nghe: “Tục cạy cửa ngủ thăm ở bản Cỏi có từ rất lâu đời rồi, những thiếu nữ đến tuổi cập kê, ban ngày đi làm ngoài đồng, ngoài nương, tối đến thắp một ngọn đèn, buông màn sớm và nằm trong đó. Các chàng trai trẻ đã để ý cô gái mà mình thích từ trước sẽ tìm đến nhà đó để tìm cơ hội vào cạy cửa để được ngủ thăm.
Nếu thấy đèn trong buồng của cô gái còn sáng nghĩa là cô gái đó vẫn đang chờ đợi người tình, muốn vào nhà, chàng trai phải tự cạy cửa. Khi vào được nhà người tình trong mộng, chàng ta sẽ nằm xuống giường cô gái và phải để tự bàn tay cô gái ấy tắt hay vặn nhỏ ngọn đèn.
Hai người chỉ được trò chuyện, tâm sự mà không được chạm vào người nhau. Vì người Mường ở đây quan niệm rằng: tình cảm không chỉ là chuyện riêng tư của đôi trai gái mà còn là mối quan tâm chung của thổ thần (thần đất, quán xuyến công việc của mỗi nhà), tổ tiên và gia đình. Do đó người con trai phải cạy cửa vào tận giường để tâm tình cùng người con gái trước sự chứng kiến của “ba bề, bốn bên”. Hành động cạy cửa cũng chính là dịp để thử tài khéo léo, giỏi giang của chàng trai.
Việc “vào tận nhà, sà tận giường” đối tượng cũng chính là dịp để người con trai tìm hiểu gia cảnh của người con gái mà mình có thể lấy làm vợ… Sau nhiều đêm tìm hiểu như thế, cô gái sẽ có quyền quyết định cho chàng trai đó “ngủ thật” hay không.
Nếu cô gái ưng bụng chàng trai đến ngủ thăm, để được “ngủ thật” cùng nhau, hai người phải thưa với bố, mẹ cả 2 bên gia đình để xem có hợp tuổi không. Khi thời gian “ngủ thật” bắt đầu, cũng là lúc chàng trai phải đến ở làm công cho gia đình cô gái. Cứ ngày đi làm cùng gia đình, tối về ngủ với cô gái mình có ý định tìm hiểu.
Trong thời gian này, chàng trai không được về nhà mình, muốn về phải được gia đình cô gái cho phép. Nếu cô gái không thích chàng trai nữa thì cô gái sẽ gói quần áo cùng với một gói cơm nắm cho vào địu để đuổi khéo”. Anh Dũng cũng cho tôi biết, hồi còn trẻ anh cũng đi ngủ thăm suốt, vất vả cạy cửa mãi mới lấy được vợ chứ chả phải chuyện dễ. Để giúp tôi tận mắt chứng kiến phong tục độc đáo này, anh Dũng bảo cậu con trai năm nay 17 tuổi tên Lợi, lát nữa sau bữa cơm sẽ dẫn tôi đi, theo anh Dũng thì tối nào Lợi cũng cùng các trai bản đi cạy cửa các cô sơn nữ trong bản cả.
Bữa cơm thiết đãi khách có thịt gà đồi, măng rừng cùng với rượu sắn đều là những thứ cây nhà lá vườn. Vợ anh Dũng nói với tôi rằng, ở đây giá có nhiều tiền cũng chả biết tiêu gì, vì đồ ăn đều tự cung tự cấp, chỉ thỉnh thoảng mua ít đồ tiêu dùng cho sinh hoạt thôi.
Cơm nước xong xuôi, tôi giục Lợi dẫn đi xem cạy cửa ngủ thăm, Lợi có vẻ phấn khởi nói “anh yên tâm, tí nữa không chỉ cho anh xem, em còn dạy anh cách cạy cửa để vào ngủ thăm nữa”, câu nói của Lợi khiến tôi hết sức vui mừng. Chạy vào nhà mặc chiếc quần dài và cầm theo đèn pin, Lợi đưa tôi đi đến nhà các cô gái trong bản
Đường ở bản Cỏi không có đèn đường gì hết, tối om, nếu không có đèn pin thì ngay cả người trong bản cũng khó mà đi lại, vì lối vào các nhà rất nhỏ lại toàn cây cối rậm rạp. Vừa đi Lợi vừa kể cho tôi rằng cậu ta biết đi cạy cửa từ lúc mới 13 tuổi, rồi cậu ta kể vanh vách tên, tuổi, nhan sắc của từng cô gái trong bản. Lần mò theo ánh sáng của chiếc đèn pin, Lợi dẫn tôi đến nhà của một cô gái tên Nga mà theo Lợi đây là cô gái đã có cảm tình với Lợi rồi.
Thấy phía trước có ánh đèn trong nhà, Lợi hí hửng: “may quá, anh em mình đi sớm nên chưa bị “mất phần””, nói rồi Lợi dặn tôi, không cần nói gì cả, cứ nhìn theo cậu ta là biết cạy cửa ngủ thăm ra sao. Đưa cho tôi đèn pin, Lợi bắt đầu tiến đến trước bậc thềm khẽ nhấc cánh cửa nhà sàn lên, rồi đẩy nhẹ vào trong, tức thì chốt cửa rơi xuống và Lợi vẫy tay ra hiệu cho tôi đi vào cùng.
Vào trong nhà, nhìn thấy tôi đi cùng Lợi, cô gái người Mường tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng sau khi Lợi giới thiệu là người quen dưới xuôi lên chơi, cô gái tên Nga cũng mỉm cười và ra rót nước mời khách. Sau khi khẽ nói vào tai tôi “anh cứ ngồi yên ở ghế nhé, phải tắt đèn không có trai làng lại kéo tới”, Lợi cùng cô gái vén màn, ngồi lên giường tâm sự, lúc này thay vì nói bằng tiếng kinh, Lợi cùng bạn gái trò chuyện bằng tiếng người Mường vì vậy tôi chẳng nghe ra được chữ nào, mà đèn thì cũng tắt nên không nhìn thấy gì hết.
Ngồi một hồi lâu đèn lại bật sáng, Lợi đi xuống khỏi giường và bảo tôi “thôi, mình về đi anh”, chào tạm biệt cô sơn nữ mà lòng tôi không khỏi thấp thỏm vì đã được xem cạy cửa rồi nhưng chưa biết ngủ thăm thế nào. Chắc cũng đoán được tôi còn tò mò, Lợi nói cho tôi hay: “Tối nay em dẫn anh đi để biết cách thức đã, cạy cửa thì anh biết rồi nhé, còn khi vào được giường cùng cô gái rồi, anh phải hàn huyên tâm sự để lấy lòng cô gái, cái này anh là nhà báo chắc giỏi lắm, khi nào cô thấy cô đáp chuyện vui vẻ và nắm tay mình có nghĩa là đã bằng lòng, lúc đó anh cũng có thể nắm tay hoặc ôm để thể hiện tình cảm. Tối nay coi như cho anh đi thử đã, ở lại đây, tối mai em để anh đi cạy cửa ngủ thăm”.
Trở về căn nhà sàn của anh Dũng lúc sương đêm đã bắt đầu giăng kín, cái lạnh vùng cao thấu vào da thịt, tôi chui vội vào chăn cho ấm. Vừa lim dim mắt, tôi vừa nghĩ lại về cái tục tìm kiếm bạn tình kỳ lạ ở nơi hẻo lánh, hoang sơ này, và mong sao nhanh đến tối mai để được thử một lần tự mình cạy cửa… ngủ thăm.
(Còn tiếp)
Theo báo Bưu điện Việt Nam
Phần 2: Tôi đi cạy cửa ngủ thăm
Buổi sáng sau đêm được chàng con trai chủ nhà dẫn đi chứng kiến cảnh ngủ thăm, trong thời gian chờ đợi đến tối để được tận tay cạy cửa nhà sơn nữ, tôi tìm gặp ông Phúc, trưởng bản Cỏi. Khi tôi hỏi ông xem tôi là người bên ngoài đến đi cạy cửa ngủ thăm liệu có vi phạm nội quy gì ở đây không, ông trưởng bản cho biết: “Cậu là người Kinh thì có thể tới cạy cửa bất cứ nhà cô gái nào cậu ưng mắt, miễn là cô ấy vẫn cô đơn chưa có trai bản nào đến nhà ngủ thật, nhưng phải giữ ý tứ và tuyệt đối trong sáng“.
Lúc về tôi kể với cậu thanh niên Lợi, người đã dạy cho tôi “bí kíp” cạy cửa tối hôm trước những gì ông trưởng bản nói, Lợi vui mừng ra mặt nói cho tôi hay: “Thật ra nhà ông trưởng bản cũng có một cô con gái đẹp lắm, ngặt nỗi ông Phúc cho đi học ở dưới xuôi, nên thanh niên ở bản cũng chẳng có cơ hội để bén mảng tới cạy cửa. Nhưng mà anh yên tâm, em đã nhắm cho anh được một cô thuộc dạng “hoa khôi” rồi, tên Thơm, năm nay 16 tuổi, không chỉ em mà nhiều trai bản khác đến cạy cửa rồi nhưng Thơm chưa ưng ai cả, để lần này anh vào xem sao, thành công thì tốt mà không được cũng chả sao vì đâu phải mình anh “bại trận””.
ban coi phu tho Khám phá tục Ngủ thăm người Mường Phú Thọ   Kỳ 2
Bản Cói Xuân Sơn – Phú Thọ
Và rồi màn đêm cũng buông xuống, cả không gian chìm trong một màu đen tĩnh mịch, âm u của núi rừng Tây Bắc. Chỉ thấy tiếng suối ào ào chảy không ngừng nghỉ, văng vẳng đâu đó những âm thanh rên la, gào thét kỳ lạ của thú rừng.
Đêm nay trời bỗng đổ lạnh hơn, khoác thêm chiếc áo sơ mi ra ngoài chiếc áo phông, tôi cùng Lợi bắt đầu cuộc hành trình cạy cửa ngủ thăm. Đường đi đến nhà cô gái người Mường tên Thơm cũng khá xa, theo Lợi cũng phải tới 3km, ngoài ánh sáng từ chiếc đèn pin nạp điện Lợi cầm theo thì chỉ có những đốm sáng yếu ớt cứ lóe lên rồi lại vụt tắt của vô vàn các con đom đóm đang bay nhảy nơi núi rừng này.
Trong lúc đi, nhiều lần tôi bị vấp ngã do đường quá xấu, rất nhiều tảng đá lớn nằm ngổn ngang trên đường vì sạt lở từ trên núi lăn xuống, mà đường cũng ít người đi, nên không ai dọn cả, thành ra muốn đi hết đoạn đường tôi cứ phải áp sát theo phía sau người Lợi như lũ trẻ con vẫn chơi trò “rồng rắn lên mây” vậy.
Từ xa, ánh đèn lờ mờ của vài nóc nhà sàn cũng đã hiện ra, Lợi nói với tôi “phía trước là nhà em Thơm đó anh, bây giờ em soi đèn cho anh đi vào đến gần cửa rồi anh tự mình “tác chiến” nhé, em sang nhà con bé ngay bên cạnh thôi, nếu vào trong mà Thơm không ưng thì anh sang đây gọi em nhé”. Đợi tôi đi đến thềm nhà, Lợi đổi hướng chiếu đèn và đi sang nhà bạn tình của anh chàng, thú thật là khi còn có một mình, tôi cũng hơi lúng túng. “Kể ra có hai đứa, chưa biết còn ỷ lại được cho nó, giờ đơn thương cũng thật ái ngại”. Nghĩ bụng thế nhưng tôi cũng đánh liều bước đến trước cửa, đèn bên trong vẫn sáng, nhưng không thấy có tiếng động gì cả, tôi cố nhớ lại thật chính xác từng hành động cạy cửa của Lợi tối qua, tay tôi bấu vào chỗ gồ lên ở cánh cửa, khẽ tịnh tiến cửa lên phía trên để tạo độ trũng cho then cửa tuột ra và “kịch” tiếng then cửa rơi xuống nền nhà khiến tim tôi cùng lúc đập thình thịch. Vậy là tôi đã vượt qua được cửa ải đầu tiên.
Tôi hít một hơi dài, cố trấn tĩnh lại tinh thần, khẽ đẩy một cánh cửa để vừa đủ lọt người. Tôi bước vào, đảo mắt nhìn một lượt, căn nhà sàn khá rộng, trống trải, rất ít đồ đạc, chỉ có bộ bàn ghế uống nước đặt ở chính giữa và một chiếc dây thép buộc dọc ở góc nhà treo đầy quần áo dân tộc lẫn những bộ quần áo mà người dưới xuôi vẫn hay mặc. Đến khi tôi đủ dũng cảm để lia mắt về phía chiếc phản gỗ buông màn trắng thì cũng là lúc bắt gặp ánh mắt sáng ngời của cô gái trong tư thế đang vén màn lên một cách ngơ ngác.
Biết Thơm đang khó hiểu vì sự xuất hiện của một chàng thanh niên đeo kính cận, từ đầu tóc cho đến trang phục đều khác xa so với các trai bản, tôi liền nói bằng một giọng trầm ấm nhất có thể “chào em, anh là anh họ của Lợi con chú Dũng mới lên đây, anh là người Kinh, em cho anh ngồi xuống giường với nhé”.
Trái với những lời Lợi nói rằng Thơm rất kén, khéo tôi bị đuổi ngay từ cửa, cô gái mỉm cười nói “anh ngồi đi, nhưng sao anh lại đến nhà em”. Tôi thật thà kể cho Thơm nghe về mục đích của mình là muốn đến đây tìm hiểu về phong tục kỳ lạ cạy cửa ngủ thăm của người Mường một lần cho biết. Cô bé tỏ vẻ rất thích thú lắng nghe và hỏi tôi: “Anh đi một mình như thế không sợ à, lên dân tộc dễ bị chài lắm đấy”. Thấy Thơm đã có vẻ cởi mở, tôi cũng mạnh miệng ‘sợ gì, nếu lỡ có cô gái đẹp như em chài anh cũng muốn”. Nghe vậy, Thơm cười khúc khích.
Quả thật là tôi không tin mình lại may mắn đến vậy, lần đầu cạy cửa lại tìm được một sơn nữ đẹp như trăng rằm, đúng là vẻ đẹp của các cô gái miền núi thật khác với con gái dưới xuôi, Thơm để tóc dài, buộc bằng một chiếc vải lụa màu trắng, mái tóc được rẽ mái ôm gọn gàng quanh viền tai, đôi mắt đen với hàng lông mi rậm. Khuôn mặt trái xoan với má lúm đồng tiền làm nụ cười duyên dáng lạ kì, bảo sao thằng Lợi nói lũ thanh niên quanh bản này mê mẩn Thơm lắm.
Nói chuyện được một lúc, tôi thấy Thơm khẽ mỉm cười bước ra khỏi giường, tôi chưa hiểu chuyện gì, thì thấy ánh đèn chợt vụt tắt. Thơm nói khẽ trong màn đêm, “em tắt điện không lại có người khác vào”. Lúc màn đêm ập tới cũng là khi tôi biết, Thơm cũng có cảm tình với mình nên muốn giữ mình trò chuyện. Trong bóng tối tĩnh lặng đó, tôi nghe rõ từng hơi thở của Thơm, cảm nhận thấy luồng hơi ấm tỏa ra từ người con gái đang ngồi bên cạnh. Bất giác, em nắm tay tôi, bàn tay mềm mại và mát lạnh của sơn nữ làm trái tim tôi cũng loạn nhịp. Tôi không ngờ cái tục lệ này lại mang một màu sắc lãng mạn đến kỳ lạ như vậy.
Với giọng thì thầm, Thơm nói với tôi thật thân tình: “Cái tục cạy cửa ngủ thăm này với trai bản thì thích chứ với con gái như em nhiều lúc cũng mệt lắm, nhiều người đến, dù không thích nhưng vẫn phải tiếp rồi lựa lời để chối từ. Có lúc đuổi mãi còn không chịu về, nhiều lần phải ngồi thi gan đến vài tiếng đồng hồ chẳng nói câu gì. Từng người đến rồi lại đi, không biết bao giờ em mới kiếm được một người để làm chồng”.
Tôi khẽ vỗ về Thơm, em ngả đầu ngon lành bên vai tôi, bất chợt tôi lại nhớ đến lời căn dặn của ông trưởng bản, tôi biết mình phải giữ đúng nét trong sáng của cái tục lệ tìm kiếm bạn tình hoang sơ này. Cũng không biết mình ngồi đó cùng Thơm bao lâu, thấy em dường như đã yên giấc, tôi khẽ đặt em nằm xuống gối, toan xuống giường để ra về, tay tôi lại bị nắm chặt một lần nữa,
Thơm nói: “Anh đi về à”, tôi đặt nhẹ tay lên bên má mịn màng khẽ an ủi: “Anh phải về không chú Dũng lo, rồi anh sẽ quay lại thăm em”.
Bước ra khỏi cửa mà lòng tôi bứt rứt không yên, vậy là tôi đã thực sự biết cạy cửa ngủ thăm nhà sơn nữ, chưa lần nào đi viết mà tôi lại nhập vai đến vậy. Mùi hương từ mái tóc Thơm vẫn còn lan tỏa bên khứu giác, lòng tôi dấy lên một nỗi niềm khó nói thành lời. Lững thững dò dẫm định tìm đường sang nhà bên để gọi thằng Lợi về thì tôi đã thấy nó lao đến trước mặt ‘anh giỏi thế, tán được em Thơm à, sao ngồi lâu thế, em ngồi đợi gần 2 tiếng rồi đấy”, Lợi nói như sợ ai ăn cướp lời.
Tôi hỏi nó “anh tưởng mày chơi bên kia cơ mà” thì được Lợi cho biết, nó không được bạn tình ưng, cố lân la được một lúc thì bố mẹ cô gái kia về, nên nó đành ra đây ngồi đợi tôi.
Đường trở về nhà chú Dũng lần này sao mà nhanh quá, có lẽ vì tôi vẫn miên man với những suy nghĩ về Thơm. Không biết em có thể tìm được cho mình một người chồng yêu thương thực sự không, hay sẽ bị lợi dụng bởi chính cái tục lệ kỳ lạ cạy cửa…ngủ thăm này.
Theo báo Bưu điện Việt Nam

Hát ghẹo

Phong tục tập quán


Hát ghẹo ở huyện Tam Nông và Thanh Sơn cũng như hát xoan đã trở thành sản phẩm riêng của Phú Thọ. Nó mang phong cách đậm đà màu sắc địa phương, phát triển liền mạch theo thời gian. Cứ vậy, hát ghẹo Phú Thọ không bị lẫn với hát ghẹo ở bất cứ nơi nào.
Hát Ghẹo là lối hát tục nước nghĩa (kết nghĩa) trong ngày hội của các làng Nam Cường xã Thanh Uyên, Bảo Vệ xã Hương Nộn (Tam Nông), Hùng Nhĩ ( Thanh Sơn). Họ quan hệ với nhau theo quy định, năm nay làng này mời, năm sau làng kia mời, theo chu kì hai năm đến lượt một lần.
hat gheo phu tho1 Tìm hiểu về Hát Ghẹo Phú Thọ
Hát Ghẹo ngày nay
Nơi sở tại chọn nữ hát, nơi được mời cử một đội nam sang hát. Hát Ghẹo cũng hát trong ngày hội, nhưng không hát ở đình làng như Hát Xoan, mà sau khi tế lễ xong ở đình thì về một gia đình nhà cửa khang trang, sân rộng làm nơi tổ chức hát. Các quan khách, ông Trùm và các anh bên được mời ngồi ở sập hoặc trên giường gian giữa, làng sở tại bà Trùm và các chị trải chiếu ngồi trên nền nhà hoặc trên giường gian bên. Khi hát thường đối đáp hai người nhìn vào mặt nhau vừa hát, vừa thể hiện tình cảm. Dân  làng chỉ vây quanh xem tỏ thái độ tán thưởng không tham gia vào cuộc hát. Hát Ghẹo không có nhạc cụ, trống phách đệm và cũng không có múa, diễn kèm theo.
Mỗi cuộc Hát Ghẹo đều có tổ chức hát thi giữa hai làng nước nghĩa, nhưng không trao giải chỉ để cuộc hát thêm hào hứng, hấp dẫn . Có hai loại thi, thi câu và thi giọng. Để tính điểm họ dùng một cái lạt tre hoặc thanh đóm mỗi lần hát bẻ một khúc gọi là bẻ cò. Bên thua phải lấy trang phục như khăn, áo hoặc một vật nào đó trao cho bên được. Hát xong bên được trả lại các thứ đó cho  bên thua.
Mỗi cuộc Hát Ghẹo từ chập tối đến sáng hôm sau, trọn một đêm.
Về nguồn gốc Hát Ghẹo các cụ nghệ nhân kể: Ngày xưa, làng Hùng Nhĩ có nhiều rừng, nhiều gỗ quý, ruộng đất xấu trồng trọt thu hoạch kém. Làng Bảo Vệ nằm dọc theo sông Thao đất phì nhiêu lại không bị thú rừng phá nên luôn được mùa, nhưng không có rừng, thiếu gỗ làm nhà. Do vậy hai bên kết nghĩa giúp nhau. Hùng Nhĩ mất mùa, Bảo Vệ giúp tiền, giúp lúa. Bảo Vệ cần gỗ làm nhà, Hùng Nhĩ chọn gỗ quý gửi ra. Mối quan hệ giữa hai làng ngày càng gắn bó chặt chẽ. Nhân dân đi lại vui chơi, ca hát thành Hát Ghẹo.
Các cụ Nam Cường  kể : Cách đây lâu lắm  đình làng Nam Cường bị cháy. Dân làng Nam Cường phân nhau đi các nơi có rừng để tìm gỗ quý dựng lại đình. Đi nhiều nơi mà vẫn chưa tìm được gỗ tốt, duy có nhóm lên Vàng ( Thanh Sơn) nơi đồng bào Mường ở mới tìm được gỗ quý. Nhân dân trong bản đã giúp đỡ nhân dân Nam Cường chọn những cây gỗ quý nhất đóng bè thả theo dòng sông Bứa ra sông  Thao về Nam Cường. Khi bè đến Hùng Nhĩ thì bị mắc cạn. Nhân dân Hùng Nhĩ kéo ra giúp đỡ, họ khơi dòng sông đưa được bè gỗ ra khỏi chỗ cạn và cùng ngồi trên bè về Nam Cường. Trong lúc lao động và ngồi trên bè họ hát với nhau. Cảm kích trước lòng tốt của nhân dân Hùng Nhĩ hai làng kết nghĩa với nhau . Từ đó hai bên qua lại thăm nhau hát trong ngày hội thành Hát Ghẹo ( theo Truyện dân gian đất Tổ của Bùi Đình Đô- Dương Huy Thiện).
Mỗi cuộc Hát Ghẹo tổ chức theo trình tự sau.
- Cầu hội diện.  Trước ngày hội khoảng một tháng, làng mời các cụ bô lão trong làng tới họp để bàn tổ chức Hát Ghẹo. Ngày họp này gọi là ” Cầu hội diện”. Quy mô tổ chức hội lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào  năm đó được mùa hay không để quy định dân làng đóng góp. Nếu năm nào được mùa dân đóng góp nhiều thì tổ chức to, mời nước nghĩa đến dự. Năm nào mất mùa thì tổ chức nhỏ không mời nước nghĩa. Khi hội nghị các bô lão quyết định mời nước nghĩa dự, thì các cụ cử hai bà đứng tuổi đã tham gia nhiều lần Hát Ghẹo, thuộc nhiều điệu hát để huấn luyện khoảng từ 15 đến 20 cô gái chọn trong làng tuổi 16-20, không bận bựu gia đình, không có tang, người đẹp hát hay, thông minh biết giao tiếp. Bên được mời cũng cử hai ông đứng tuổi biết nhiều giọng điệu  hướng dẫn tốp trai làng trẻ đẹp hát hay để sang dự, số lượng do bên mời quy định.
-Ví đãi trầu.
Phần mở đầu cuộc hát. Trầu được để vào khay hoặc khăn tay, các chị bưng  đến trước mặt các anh mời bằng Ví mời trầu:
 Nữ hát:             
Miếng trầu để đĩa bưng ra
Xin anh nhận lấy để mà thở than.
Miếng trầu để đĩa bưng ra
Có cau có rễ, lòng đà có vôi .
Hay là trầu héo cau ôi
Mà anh lại để trầu mời không ăn…
Cứ thế các cô gái làng lần lượt mời trầu, nhưng các anh không nhận bằng câu hát :
Nam:
Miếng trầu ăn nặng bằng chì
Ăn thì ăn vậy lấy gì trả ơn.
Nữ :
Miếng trầu ăn nhẹ như bông
Ăn thì ăn vậy nhưng không có gì.
Mời mãi rồi các anh cũng phải nhận trầu và chuyển sang :
- Giọng sổng .
Trên một điệu hát, hai bên đối đáp bằng những lời ca khác nhau. Vì thế người hát ở cả hai bên phải thuộc rất nhiều câu ca dao để vận vào cho hợp.
Vì anh em mới tới đây,
Bỗng dưng chiếu trải màn quây giữa nhà.
Hay như
Anh với em như vợ với chồng,
Như bến với sông, như thuyền với lái…
-Sang giọng ( các điệu vặt )
Đây là phần âm nhạc phong phú nhất của Hát Ghẹo . Ở các phần trên  Ví mời trầu, Giọng sổng thời gian hát được kéo dài là ở lời hát, về âm nhạc chỉ có một điệu dài vài chục ô nhịp. Trên nét nhạc ấy được hát bằng rất nhiều lời khác nhau. Hơn nữa điệu nhạc này cũng rất đơn giản,  giai điệu mang tính hát nói, ngâm ngợi, tiết tấu cũng không có gì đặc biệt.
Theo các cụ nghệ nhân cho biết phần sang giọng này có 36 điệu . Nhạc sĩ Nguyễn Đăng Hoè đã ghi âm được 27 điệu, đây cũng là việc đáng quan tâm cần tiếp tục sưu tầm thêm . Gần đây thực hiện đề tài ” Nghiên cứu, bảo tồn  và phát huy di sản Hát Ghẹo Phú Thọ”, Ngô Thị Xuân Hương ( Chủ nhiệm đề tài) khai thác thêm một điệu Hát Ghẹo mới là Hát đố. Trên tập  Văn nghệ dân gianPhú Thọ, xuất bản 1999, đăng bài Buông áo em ra do cụ Trần Thị Hợi, ở Văn Lang hát, Trần Văn Thục sưu tâm và ghi âm . Ông Thục công bố điệu hát này với hi vọng nhờ các nhạc sĩ cho ý kiến xem có phải là Hát Ghẹo không? Tôi có đọc kĩ, thấy bài này có những nét của Hát ghẹo , nếu tiếp thu ở nơi khác thì cũng đã được Ghẹo hoá. Theo tôi làn điệu này có thể bổ sung vào kho tàng Hát Ghẹo được. Việc làm này của ông Trần Văn Thục đáng quý thể hiện sự trân trọng đối với di sản văn hoá của ông cha ta để lại.
Mỗi điệu hát ở phần Sang giọng này đều là những điệu hát hoàn chỉnh. Nó chứa tất cả những đặc sắc về âm nhạc của Hát Ghẹo. Về giai điệu trong Hát Ghẹo phần nhiều mang tính chất trữ tình, khi du dương bay bổng đằm thắm, khi giãi bày tâm sự, chòng ghẹo, bóng gió…Cùng với cách hát luyến láy mềm mại, rung hơi, rung cổ vang rền nảy hạt làm súc động lòng người. Tiết tấu trong Hát Ghẹo cũng có nhiều âm hình độc đáo, tinh tế.  NS. Nguyễn Đăng Hòe có nhiều năm nghiên cứu Hát Ghẹo đã xuất bản cuốn ” Bước đầu tìm hiểu Hát Ghẹo Vĩnh Phú” năm 1978 đã nhận xét: ”Những loại bài hát này có bản sắc riêng, tính chất riêng, phong cách riêng. Mỗi bài chứa đựng một nội dung tình cảm nhất định không thể lẫn lộn giọng này sang giọng khác, bài này sang bài khác.
Mặc dù kĩ thuật còn đơn giản nhưng nội dung chứa đựng một tình cảm rất dồi dào, cho nên những bài hát ở đây đã đạt đến mức độ cao về nghệ thuật, truyền cảm sâu sắc có thể so sánh với những bài dân ca hay mà chúng ta đã sưu tầm được ở những nơi khác”.
Có những điệu khi được hát lên khắc hoạ rõ nét cảnh sắc vùng đất trung du như điệu Thuyền ai róc rách làm ví dụ. Âm điệu của bài này ta hình dung thấy đồi, gò nhấp nhô, con người được tôn lên hoà cùng với cảnh sắc, thiên nhiên. Ở đây còn thấy những tiếng gọi bạn thân thương, gân gũi, có tiếng róc rách của nước, của cành cây la xuống bên ngòi, khi thuyền luồn lách theo con ngòi nhỏ. Hoặc ở bài Bà rí từ giai điệu đến tiết tấu làm ta cuốn hút lắc lư hào hứng cùng điệu hát.
Người hát ở phần này phải thuộc nhiều điệu, khi hát không cần phải theo thứ tự nào, muốn hát điệu nào trước cũng được, người đáp lại phải hát  đúng điệu ấy chỉ thay bằng lời khác.
Hát hết 36 giọng trời vừa sáng, dân làng dọn cỗ mời các anh ăn, sau đó đến phần hát tiễn chân về quê.
Ví tiễn chân.
Là cuộc hát của các trai gái hai làng tiễn nhau trên đoạn đường dài vài cây số. Họ tiễn nhau bằng những lời hát sâu lắng, quyến luyến chan chứa lòng yêu thương:
Anh về có chốn thở than
Em về ngồi tựa phòng loan một mình.
Hay
Trăm năm gắn bó như nêm
Chữ tình tạc dạ chữ duyên ghi lòng…
Dù bịn rịn, dùng dằng lưu luyến đến đâu chăng nữa cũng phải chia tay. Tình cảm ấy còn mãi trong lòng họ. Có lần cụ Tuân ( nghệ nhân Hát Ghẹo) kể cho tôi nghe : “Sau mỗi cuộc hát chúng tôi nhớ nhau lắm, tuy vẫn thường nhận được tin của nhau nhưng hàng năm chúng tôi tìm mọi cớ để được gặp nhau như, vào Thanh Sơn kiếm củi hoặc ngày mùa vào gặt thuê, hoặc tìm một công việc nào đó chỉ mong để được gặp nhau”. Khi kể lại trong lòng cụ vẫn còn xốn xang, bồi hồi xúc động và cả sự bùi ngùi luyến tiếc một thời Hát Ghẹo đã qua.
Tỉnh Phú Thọ có hai vốn dân ca lâu đời phong phú và đặc sắc, đó là Hát Xoan và Hát Ghẹo. Hát Xoan, vừa qua  Thủ tướng chính giao cho Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch và UBND tỉnh Phú Thọ lập hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản văn hoá của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp. Theo tôi nghĩ Hát Ghẹo cũng cần được quan tâm đúng mức nhằm giữ gìn, phát triển vốn dân ca này.
Tác giả: NS.CAO KHẮC THUỲ

CẢM NHẬN MÙA HẠ ĐANG VỀ

<