Hãy sống vui vẻ với những điều ta yêu thích,những điều ta muốn khám phá,những việc ta muốn làm trong khuôn khổ cho phép của thời gian!

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Tắm tiên

Phong tục-tập quán


Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?

Với những người đã từng ở Tây Bắc hoặc am hiểu văn hóa Thái thì cảnh con gái Thái tắm tiên là một phần không thể tách rời trong văn hóa Thái và nếu thiếu cảnh trữ tình, nên thơ ấy, suối ngàn Tây Bắc sẽ kém đi vẻ lung linh huyền ảo…
tam tien ban coi Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Con gái Thái tắm suối những ngày xưa
Khi tôi hỏi vì sao nét đẹp truyền thống đó không được gìn giữ, trưởng bản cười và nói: “Từ hồi làm đường, với bản có điện, nhiều người dưới xuôi bắt đầu lên đây làm ăn, lâu dần bản cũng tấp nập người đi lại, nhiều người đi tắm suối cởi đồ hay bị người lạ nhìn thấy rồi họ sẵn máy móc lôi ra quay phim, chụp ảnh cười ầm ĩ với nhau nên các cô gái trong bản sợ không dám đi tắm tiên nữa mà thường gùi nước về tắm tại nhà”.
son nu Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Những cô gái ở bến Thân giờ chỉ còn gùi nước về nhà
Ông trưởng bản cũng cho tôi biết thêm: “Nếu nhà báo muốn tìm sơn nữ tắm tiên bây giờ chỉ có cách đi xuyên qua rừng quốc gia Xuân Sơn, tìm vào xóm người Mường, người Dao ở Xuân Sơn, Tân Sơn, Phú Thọ… thì có lẽ vẫn còn vì đường vào đó chưa làm hết. Các hộ dân hầu như vẫn sống biệt lập, ít giao lưu với thế giới bên ngoài.”
Câu nói của ông khiến tôi đang như kẻ lạc lối giờ tìm ra con đường đi đúng hướng. Chào tạm biệt ông, tôi đi xe hướng về Xuân Sơn nơi giáp ranh giữa Sơn La và Hòa Bình để tìm cho kỳ được dòng suối vẫn còn lưu giữ nét đẹp tắm tiên của các cô gái miền sơn cước.
xuansondhotoxemay33tv4 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Con đường đi qua rừng quốc gia Xuân Sơn kéo dài gần 30km, xe đi phải cài số 1 mới đi lên được những đoạn dốc gần như thẳng đứng, trong rừng lại rất nhiều vắt, chỉ cần đỗ xe lại một lúc thôi là sẽ bị những sinh vật này bám vào. Càng đi sâu vào tận cùng xã Xuân Sơn, đường càng thêm heo hút, nhiều đoạn đường nước suối chảy tràn lên chắn ngang đường, ngập đến nửa bánh, đi không vững tay lái dễ bị cuốn trôi cả người lẫn xe xuống vực như chơi.
Qua sự hỏi thăm người dân nơi đây, họ cho tôi biết đúng là ở Xuân Sơn người dân vẫn giữ được tục đi tắm suối, nhưng phải đi vào nơi heo hút nhất của xã là bản Cỏi mới có thể được chiêm ngưỡng cảnh các cô gái nô đùa dưới dòng nước suối trong xanh mát lạnh buổi chiều tà…
Vậy là tôi vào bản Cỏi. Bản Cỏi là nơi cư trú của một bộ phận người Dao Tiền, bản nằm giáp với tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc của Hòa Bình, cả bản hiện có 84 hộ, sinh sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa và một số nghề phụ như đánh cá, hái măng, nuôi gà…kinh tế vẫn còn rất nghèo và lạc hậu.
t647881 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Nhà ở bản Cói vẫn đơn sơ như ngày nào…
Đường vào bản Cỏi liên tục những con dốc cao, dài nối tiếp nhau, mất rất nhiều thời gian tôi mới đặt chân được đến nơi. Thật đúng như những gì người dân nói: bản Cỏi thật hoang sơ và yên bình, những nếp nhà sàn ấm cúng tập trung, lọt thỏm giữa rừng rậm, đồi núi trùng trùng, điệp điệp.
Nơi này chưa hề có dấu chân của nền văn minh bước tới, thật khó mà kiếm được sự ồn ào, đua chen như ở thành thị. Khái niệm “nhà nghỉ” không có ở đây nên tôi vào xin nghỉ nhờ ở nhà một người dân ở ngay phía đầu bản. Biết tôi là nhà báo lặn lội từ dưới xuôi lên, họ rất niềm nở và bảo thích nghỉ bao lâu thì nghỉ, ăn uống cùng gia đình, có gì ăn nấy không phải lo. Thật vui lắm khi vừa mệt lả người sau một cuộc hành trình lại có một chốn để nghỉ ngơi.
Tìm gặp trưởng bản Cỏi là ông Đặng Vĩnh Phúc, tôi được ông cho biết: “Tắm suối là nét văn hóa có từ hàng ngàn năm trước. Trước đây cứ sau mỗi buổi lao động vất vả trên nương, phụ nữ bản lại rủ nhau ra suối trầm mình xuống dòng nước mát lạnh. Tắm suối không chỉ để gột rửa bụi bẩn, ngâm mình trong dòng nước mát cho thư thái mà còn là thời gian để họ chuyện trò tâm sự, chia sẻ mọi điều trong cuộc sống”.
phong+tuc+tam+tien16 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Vẻ đẹp thôn nữ tắm tiên
Nhen nhóm niềm hy vọng sẽ được tận mắt chứng kiến vẻ đẹp hoang sơ, hiếm hoi nơi núi rừng tôi quay trở lại căn nhà sàn để chuẩn bị đồ nghề đi “săn vẻ đẹp tiên nữ”.
May mắn ở gia đình tôi xin ngủ nhờ có cậu con trai tên Lương năm nay vừa đúng 18 tuổi, lúc nói chuyện cậu ta khoe với tôi: “Ở bản Cỏi này chẳng chỗ nào em không biết”. Tôi thử hỏi có biết chỗ nào có con gái đẹp tắm suối không… thì Lương cười khì khì nói “có đấy, nhưng hơi xa, tít tận ở hang Đất, đường xấu xe máy không đi được, phải đi bộ lâu lắm. Với lại đi nhìn người ta tắm ngại lắm, người ta biết mình rình mò thì xấu mặt”.
Sau khi nói rõ ràng và thuyết phục để cậu trai trẻ hiểu được mục đích của tôi, Lương đồng ý buổi chiều sẽ dẫn tôi đi để được tận mắt chứng kiến sơn nữ tắm tiên giữa núi rừng. Đúng 5 giờ chiều, tôi và cậu em Lương cuốc bộ từ nhà đi; đoạn đường tới hang suối có “tiên nữ” là đường đồi, dù không dốc nhưng rất lầy lội. Đường lót toàn những phiến đá to ụ, lởm chởm đi bộ còn nhọc, xe máy đi lên đây thì chịu thua.
photo 5701 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Bây giờ các cô gái biết mắc cỡ, ngại ngùng trước ánh mắt người miền xuôi
Vừa đi Lương vừa cho tôi biết, ở bản Cỏi có nhiều chỗ có sơn nữ tắm suối nhưng chỉ có chỗ hang Đất này mới có thể chụp ảnh được vì những người ra đây tắm khi trời vẫn còn chút ánh sáng sắp cạn của một ngày tàn. Mất gần một giờ đi bộ, chúng tôi mới đến được nơi. Sau khi chọn địa điểm thích hợp, tôi ngồi ôm khư khư chiếc máy ảnh chầu chực đợi đến khi “nhân vật chính” xuất đầu lộ diện.
t647888 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Một cô gái Mường chuẩn bị tăm suối
Và rồi cái gì đến cũng đến, khi trời đã xám xịt sắp chuyển sang gam màu tối đen: những cô gái người Dao bắt đầu đi tới con suối ở hang Đất và từ từ trút bỏ xiêm y. Cơ thể đầy đặn, trắng mịn nổi bật lên giữa màu u tối của đất trời, một vẻ đẹp huyền ảo đã lộ ra trước mắt.
Chiếc váy hoa được các cô gái quấn cẩn thận lên đầu ôm gọn lấy mái tóc, ngâm mình dưới là nước mát lạnh, bờ vai trần trắng ngần thấp thoáng theo những làn sóng nước của con suối.
tam+tien04 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Sao anh lại rình
Trộm xem em tắm
Da của em ngần trắng
Da của mẹ, của cha
Tay của em lấm lem
Tay của than của bụi
Tay của rừng của núi
Tay của đất của nương
Em tắm xong lại sạch
Vẫn ngát thơm hoa rừng
Da của em trắng ngần
Là của anh tất cả
Không phải người xa lạ
Việc gì mà trộm xem
Em tắm suối giữa mường
Tắm trong mối yêu thương
Có anh đang đứng giữ
Chớ để Tây đến mường
Không để lỡ cơ hội tôi bấm máy theo từng cử chỉ của “tiên nữ”. Những tưởng sẽ không bao giờ còn được nhìn thấy nét đẹp ấy thế nhưng giờ đây vẻ đẹp huyền thoại của núi rừng đang hiện diện thật sống động.
t647886 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
“Pây áp nậm” (tắm suối) vừa xong
Trên đường về, tôi hỏi Lương còn các “sơn nam” trong bản thì tắm ở đâu thì Lương cho biết “đàn ông trong bản thì cứ tiện đâu tắm đấy, nhưng không bao giờ tắm gần bãi tắm của phụ nữ và tuyệt đối không ai đi nhìn trộm sơn nữ tắm cả, đó như một quy luật bất thành văn ở đây”.
Chẳng thế mà các cô gái đều thoải mái trút bỏ xiêm ý, tha hồ nô đùa dưới làn nước mát để tận hưởng cảm giác sảng khoái từ những làn nước tinh khiết chảy ra từ núi.
phong+tuc+tam+tien10 Về Phú Thọ còn được xem sơn nữ tắm tiên?
Những nét sinh hoạt của người Thái đều gắn liền với dòng nước từ giã gạo, ăn uống, giết mổ và cả việc tắm táp. Khi nào trên các khe nước, suối nguồn của Mường Pồn, Mường Lay, Mường Tè của Lai Châu mất đi bóng dáng của con gái Thái đi “tắc nặm”, “pây áp nậm”? Nếu thế thì khác gì núi rừng Tây Bắc không còn hoa ban…
Lần mở xem lại những tấm hình quý giá vừa ghi lại được, tôi tự hỏi không biết liệu tục tắm tiên ở bản Cỏi sẽ còn lưu giữ được đến bao giờ. Rồi đến khi nào nó sẽ lại bị tan biến bởi những điều trần tục đang dần xâm chiếm cuộc sống nơi nguyên sơ này hay không? Nếu như vậy thì những dòng suối trở nên chơ vơ vì không còn bóng dáng “tiên nữ” nữa, mất cả hồn – phai nhạt cả phong tục về huyền thoại tắm suối của những sơn nữ vùng cao.
Trang tin Phú Thọ Tổng hợp từ nhiều nguồn

Ngủ coong trình người Dao Đỏ

Phong tục tập quán

Vùng rừng hoang vắng:

Chuyện “coong trình” của người Dao đỏ

Thái Sinh   -Thứ Sáu, 16/11/2012, 8:19 (GMT+7)
Theo quan niệm của người Dao đỏ, khi về thế giới bên kia những người phụ nữ phải có nhiều người đàn ông bên cạnh để giúp họ vượt qua những gian khó của kiếp ma. Người cõng qua suối, người chặt củi, người đốn cây làm nhà, người cày ruộng làm nương... nghĩa là càng ngủ với nhiều người đàn ông càng tốt. Người ta không coi quan hệ ngoài vợ chồng thuộc phạm trù đạo đức...
Chuyện “coong trình” của người Dao đỏ
Tôi có anh bạn đang làm ở VQG Hoàng Liên (Lào Cai), trước đây anh là cán bộ kiểm lâm huyện Văn Bàn.
Khu vực này có đông người Dao đỏ sinh sống, cách nay gần hai chục năm, chàng thanh niên kiểm lâm mới ngoài hai mươi tuổi mặt còn đầy lông tơ. Vừa mới ra trường anh được phân công phụ trách địa bàn nên chưa hiểu biết gì về phong tục tập quán của người Dao đỏ. Xuống cơ sở anh được phân về ăn ngủ tại nhà ông trưởng bản. Đêm ấy sau khi chủ nhà mổ gà, mời cán bộ kiểm lâm một chầu rượu say bí tỉ, anh lăn ra ngủ.
Chừng nửa đêm thì thấy hai cô gái tuổi độ mười bảy, mười tám đến bên giường cầm áo anh lôi dậy. Chưa hiểu ra sao thì hai cô thì thầm vào tai anh: Cán bộ ra rừng ngủ với chúng tao đi. Chúng tao thích cán bộ mà, dậy đi chúng ta đi “coong trình” nào...

Đôi mắt sáng long lanh của cô gái Dao khi nhìn thấy khách lạ
Anh cố thụt đầu vào trong chăn, thì hai cô gái càng lôi anh mạnh hơn, khiến anh vô cùng sợ hãi. Trước khi lên vùng cao, người ta kể với anh chuyện ma cà rồng chuyên hút máu người. Ma cà rồng hiện hình qua các cô gái xinh đẹp, đêm đêm đi tới những ngôi nhà, chờ khi ngủ say mới dùng một cọng cỏ tranh luồn qua màn hút máu người đang ngủ. Ai bị ma cà rồng hút máu thì da cứ vàng bủng rồi chết.
Trong ánh lửa từ lò nấu cám lợn và ngọn đèn đốt bằng mỡ trâu đặt trên giá ở chiếc cột giữa nhà hắt tới, khiến gương mặt hai cô gái Dao đẹp hoang dại, rực rỡ như bông hoa rừng. Câu chuyện ma cà rồng vụt hiện trong đầu khiến anh hét lên sợ hãi. Nghe tiếng động, ông trưởng bản trở dậy, ông nói gì đó với với hai cô gái, họ cười khúc khích rồi buông áo anh ra.
Sớm hôm sau kể lại chuyện đó với chủ nhà, trưởng bản cười bảo anh: Mấy đứa con gái thích cán bộ kiểm lâm, nên muốn kéo ra rừng ngủ với chúng nó đấy... Chàng kiểm lâm trẻ tuổi khi đó mới nuốt nước bọt tiếc của giời cho.

Thiếu nữ Dao đỏ
Tháng ba năm sau, Hạt kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức lễ cúng rừng, để người dân ký cam kết bảo vệ rừng. Chiều ấy, anh chàng kiểm lâm trẻ tuổi rủ cô gái Dao xinh nhất bản vào rừng, vừa mới ôm cô gái vào lòng thì cô gái hét toáng lên vùng bỏ chạy về bản. Hoá ra cô gái không đồng ý “coong trình” với chàng kiểm lâm, nên gia đình cô gái phạt vạ.
Theo tục lệ của bản, chàng kiểm lâm phải mua hai con gà trống thiến và hai chai rượu để gia đình cô gái cúng ma, gọi hồn cô ấy lạc ngoài rừng về. Kể lại chuyện này với tôi anh bạn cười khì: Do hồi ấy mình trẻ quá, chả biết phong tục của họ thế nào, chuyến ấy tôi suýt bị kỉ luật. Bây giờ cứ nghe nói hai tiếng “coong trình” là tôi sợ vãi linh hồn mất rồi...
Lần đầu tiên vào Tân Phượng nơi cư trú của 96% là người Dao đỏ cùng với hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Lục Yên Đặng Văn Tâm và Hoàng Cửu Tung, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn. Kể lại chuyện của anh bạn làm VQG Hoàng Liên, Tung cười rất to: Năm 2006, tôi được phân công phụ trách địa bàn xã Tân Phượng, hôm ấy tôi lên nghỉ ở một gia đình thôn Khiểng Khun, chủ nhà mổ gà tiếp đón tôi rất niềm nở, cả chủ và khách đều uống rượu say lả lướt, người vợ của chủ nhà nhìn tôi đôi mắt long lanh lạ lắm.

Hoàng Cửu Tung, người từng được phụ nữ Dao đỏ rủ “coong trình”
Đêm ấy chừng đã khuya, tôi đang mơ màng thì thấy một người phụ nữ trườn vào trong màn rồi ôm lấy tôi, tôi giật mình mở mắt ra, nhận thấy người đang ôm mình là vợ chủ nhà, chị ta thì thầm vào tai tôi: Mình thích cán bộ, cán bộ “coong trình” với mình nhé... Hoảng quá, tôi vùng dậy mở cửa chạy ra ngoài, còn anh chồng chị ta thì vẫn ngủ như chết. Anh ta uống rượu say quá...
Chuyện quan hệ tình dục của người Dao đỏ khá phóng khoáng, cũng có người giải thích rằng: Do cuộc sống khép kín của cộng đồng người Dao đỏ, nên quan hệ hôn nhân cận huyết nhiều cặp vợ chồng vô sinh, hoặc những đứa trẻ sinh ra dị dạng, hoặc không phát triển trí tuệ và thể hình. Chính vì thế người phụ nữ Dao đỏ muốn duy trì nòi giống bằng cách quan hệ với nhiều người đàn ông khác với vóc dáng cao to, đẹp trai để sinh ra những đứa con khoẻ mạnh, xinh đẹp.
Tập tục ấy đã có từ lâu đời, chợ tình Sa Pa của người Dao đỏ phải chăng chỉ để giao lưu tình cảm, thoả mãn nhu cầu tình dục hay sâu xa là cải tạo giống nòi? Điều này cần các nhà khoa học nghiên cứu và giải đáp. Nhiều người kinh ngạc khi nhìn thấy các cô gái Dao đỏ xinh đẹp lạ kỳ, họ thốt lên: Những cô gái này như từ đâu tới, đẹp như tiên sa vậy... Không rõ, những cô gái kia có phải là sản phẩm của những đêm “coong trình” với những người đàn ông ở những vùng khác?
Thợ săn Bàn Phúc Châu sau khi nghe tôi hỏi phong tục “coong trình”, rằng ông đã “coong trình” với bao nhiêu người phụ nữ rồi? Ông rung đùi cười phô hai hàm răng nhọn hoắt đầy hứng khởi: Ô, không nhớ mình đã “coong trình” với bao phụ nữ đâu. Xấu trai như mình cũng chẳng mấy cô thích. Ừ, nếu vợ người ta thích mình thì mình “coong trình” luôn. Cái lý của người Dao đỏ là: Không cho mượn, không cho xin, chỉ ăn cắp thôi. Nếu chồng người ta bắt được thì nộp phạt đôi gà và chai rượu, nhẹ nhàng không đáng kể...

Ông Bàn Phúc Châu cười nhớ lại những đêm “coong trình”
Ông Châu lại rung đùi cười sung sướng: Vợ mình chắc nó cũng đi “coong trình” với người đàn ông khác, mình không biết thì chịu, nếu vợ mình có con với người đó cũng chả sao, nó gọi mình bằng bố chứ có gọi người kia là bố đâu. Có người còn phải mua con nuôi bằng bạc trắng kia mà. Người Kinh bảo: Cá vào ao nhà ai thì nhà ấy được, có gì phải buồn ...
Sau những đêm “coong trình” những đôi trai gái nào thích nhau tự nguyện lấy nhau thì hai gia đình sẽ bàn việc cưới. Đám cưới của người Dao đỏ khác các dân tộc khác trong đám người ta thổi kèn. Chủ tịch xã Triệu Tiến Tiên, ông Bàn Phúc Châu đều là người thổi kèn có hạng của xã Tân Phượng, nhiều đám cưới mời hai ông này tới thổi kèn để rước dâu về.
Thợ kèn được mời đến thổi từ giờ Dần (5 giờ sáng), cho đến khi chia tay gia đình nhà gái. Kèn có nhiều bài: Kèn đón dâu, kèn cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ, kèn chúc họ hàng, anh em hai bên bố mẹ, kèn diễn dịch những câu đối mọi người tặng... bài cuối cùng là bài kèn đưa tiễn nhà gái trở về. Khi đó nhà trai ra tiễn nhà gái, họ lại chúc rượu nhau, rượu rót bằng bát, phải uống thật say, đám cưới có say rượu mới vui...
Ông Châu kể rằng, phong tục “coong trình” giống như chuyện ngủ thăm, khi người con trai, hoặc con gái từ nơi khác đên thôn bản mình chơi, những chàng trai cô gái kéo đến, nếu cô gái thích chàng trai kia thì đêm ấy cô gái rủ chàng trai ra đầu sàn, hoặc ra rừng tâm sự, họ có thể ngủ với nhau tuỳ họ. Chuyện ấy là tự nguyện, chẳng ai cấm. Còn ngủ với vợ người khác, phải được người phụ nữ ấy đồng ý, nếu chẳng may bị bắt được thì phải nộp phạt...
Ngồi bên tôi là Triệu Thị Luyến, người hàng xóm của ông Bàn Phúc Châu được ông mời sang rót rượu nghe chuyện “coong trình” cứ cười khúc khích. Tôi nhớ ban sáng khi xin dấu uỷ ban xã đóng vào giấy đi đường, Triệu Thị Hiện cứ cười, tôi chả hiểu cô bé cười gì, mấy người đàn ông cũng cười theo.
Hỏi thì một người bảo: Cháu nó bảo, dấu chỉ có một cái, chú xin thì cháu lấy gì dùng? Nếu chú muốn “úp” thì cháu cho chú “úp” vài cái... Tôi hỏi Luyến: Ba đứa con của Luyến thì mấy đứa là con của chồng em? Luyến cười bảo: Cả ba đứa con đều là con của chồng em... Đặng Thị Tâm, Phó chủ tịch HĐND xã cười ý nhị bảo tôi: Ba đứa con của Luyến đều gọi chồng của nó là bố đấy anh ạ. Em người xã Tân Lĩnh, sau những đêm “coong trình” đã bắt được chồng em, nên em mới về làm dâu đất này...

Tục bắt chồng

Tục bắt chồng "man rợ"

Thứ Sáu, 18/12/2009, 05:00 AM (GMT+7)
(Tin tuc) - Trai gái trong các buôn làng Tây Nguyên bước vào mùa cưới trong những ngày cuối vụ, thường là từ tháng giêng đến tháng tư hằng năm.
Tin Tức, Tin HOT trong ngày được cập nhật liên tục từng giờ tại Tin Tức Trong Ngày
Đó là lúc mà mùa màng vừa xong, lúa đã suốt trơ từng cuống rạ, những trái cà phê cuối cùng đã về yên vị ở góc nhà.
Mùa cưới, vốn là mùa của những đôi uyên ương hạnh phúc. Nhưng đâu đó, với những hủ tục đang tồn tại, thậm chí còn phát triển mạnh với những hệ lụy của nó đã làm khổ sở, khốn quẫn cho biết bao cặp vợ chồng và những bậc sinh thành của họ…
Dung dăng dung dẻ, em đi… bắt chồng
Tục bắt chồng "man rợ", Tin tức trong ngày,
Thiếu nữ Cơ Ho đến tuổi bắt chồng.
Nhiều tộc người ở Tây Nguyên theo dòng mẫu hệ. Khác với người Kinh, con trai đi hỏi vợ thì ở đây, các cô gái… dung dăng dung dẻ “em đi bắt chồng”. Trong khoảng thời gian “nông nhàn” đó, những cô gái và chàng trai miền sơn cước “da nâu, mắt sáng, vóc dáng hiền hòa” làm cổ động viên kéo nhau theo sơ đíu (cô dâu) đi kiếm tấm chồng. Lúc mặt trời chực chờ xuống núi, đám đi dạm hỏi chuẩn bị bắt đầu, và đám hỏi ấy sẽ kết thúc khi bình minh ló dạng.
Đã có ba mặt con nhưng chị Ma Hen người Chu Ru ở buôn Krăng Gõ (Đơn Dương, Lâm Đồng) còn đỏ mặt ngượng nghịu kể với chúng tôi về cái đêm cả tộc kéo về nhà chị để chuẩn bị đi “chạm ngõ” nhà trai.
Trời nhá nhem tối, khi mọi người đang tất bật xếp rượu, xếp khăn và cặp nhẫn cưới bằng bạc để sang nhà trai thì cô dâu tương lai lóng ngóng trong bộ đồ thổ cẩm truyền thống ngồi đợi ở góc phòng. Mặc dù trong cái bụng đã thấu hiểu là “thằng” Ya Sen nó thương mình, nhà trai chắc sẽ không từ chối lễ hỏi đơn sơ, nhưng Ma Hen vẫn hồi hộp lắm.
Lần đầu tiên và cũng là duy nhất trong đời con gái, Ma Hen đi… bắt chồng. Đêm ấy là một đêm cuối năm, khi mọi người vừa đến đầu buôn của chàng rể tương lai thì cũng là lúc đàn gà trống cất tiếng gáy sáng.
Bây giờ, Ya Sen đã là chồng của Ma Hen, nhà Ma Hen nghèo lắm, họ thương nhau và dòng họ nhà trai này có lòng cảm thông và nhận thức tiến bộ không thách cưới, nên đám hỏi không rườm rà lễ vật. Dẫu vậy, Ma Hen nói, nhà đằng gái vẫn không bỏ sót thứ lễ vật và thủ tục gì trong phong tục cưới xin truyền thống của đồng bào mình…
Ở buôn Pró Ngóh (huyện Đơn Dương), già làng Ya Ngôn là người hiểu biết đầy đủ phong tục cưới xin truyền thống của đồng bào Chu Ru. Già bắt đầu câu chuyện: Ngày xưa, trai buôn nào “được mắt”, nhà gái sẽ âm thầm chuẩn bị lễ vật rồi chọn một đêm tối trời nào đó bất ngờ kéo sang họ nhà trai.
Thương lượng được thì bắt chồng, không được thì cả họ gái kéo về, đợi đến một ngày khác sẽ quay trở lại. Sao phải đi bắt chồng vào ban đêm? Gìa Ya Ngôn giải thích: “Phải đi trong đêm tối, vì may được nhà trai thuận ý thì tốt, còn không thì cũng về trong đêm nếu không người ta nhìn thấy thì xấu hổ lắm.”
Tục bắt chồng "man rợ", Tin tức trong ngày,
Câu chuyện thách cưới của bà Naria Ya Ngon ở buôn Kranggo đã làm lớp trẻ bàng hoàng.
Lễ vật trong đám cưới truyền thống của người Chu Ru bao gồm những thứ gì? Thường vẫn là tiền, vàng, dây cườm, khăn... Khăn trắng của người Chăm tốt nhất chỉ đáng giá 40 - 50 ngàn đồng, nhưng khăn đen của người Cơ Ho đáng giá 1 chỉ vàng một chiếc. Khăn là vật rất quý của đồng bào Chu Ru, dùng để quấn quanh người như áo ấm.
Có 3 loại khăn được người Chu Ru dùng để làm lễ vật, gồm khăn luh (màu trắng), khăn aban (màu đen) và khăn dơla (màu trắng). Khăn dơla là khăn đắt nhất, từ 700 - 800 ngàn đồng/tấm. Tấm khăn cũng là một vật quan trọng trong đám hỏi. Khi nhà trai đã ưng thuận rồi, sẽ giao một căn phòng riêng cho đôi trẻ.
Cô dâu (sơ đíu) và chú rể (pơ sang) sẽ trùm chung một tấm khăn, cầm chung một chiếc liềm và bước vào phòng. Tấm khăn và chiếc liềm tượng trưng cho sự đầm ấm, cho sự ăn nên làm ra của họ. Gìa làng Ya Ngôn nói:“Khi xong xuôi rồi bên nhà trai giao phòng cho đôi vợ chồng mới cưới. Hai vợ chồng trùm khăn và cầm liềm bước vào phòng. Khoảng 3 - 4 giờ sáng thì nhà gái đón và nhà trai cùng đưa con trai tới nhà gái, đưa trong đêm luôn”.
Thông thường, sau đám hỏi cô dâu về nhà chú rể sống khoảng tám ngày. Đó là khoảng thời gian cô dâu mới phải làm việc để giúp gia đình chồng chăm lo vườn tược, sắm sửa cửa nhà. Sau tám ngày này nhà gái sẽ làm một mâm lễ vật sang trọng mang sang nhà trai để dắt con gái và xin con rể về. Lúc này bố mẹ chú rể nếu có điều kiện sẽ cho con mình 1 con trâu, 4 gùi lúa giống, nồi niêu, chén bát để làm của hồi môn.
Nếu nhà gái có điều kiện thì tổ chức đám cưới, còn không thì chú rể về nhà vợ sống và đôi trẻ chính thức thành vợ chồng. Trong khoảng thời gian này, nhà gái và nhà trai thường tổ chức ăn mừng, đánh đồng la và thổi khèn mừng hạnh phúc cho đôi bạn trẻ.
“Vì chưng bác mẹ em nghèo…”
Tục phổ biến ở các buôn làng Nam Tây Nguyên trong đời sống lứa đôi là tục bắt chồng, do các tộc người như Chu Ru, Cơ Ho Cil, Lạch... vẫn còn giữ chế độ mẫu hệ. Ngày nay, cuộc sống ở vùng đồng bào dân tộc từng bước được cải thiện, điều kiện về văn hóa tinh thần cũng được nâng lên, những tưởng rằng hủ tục trong đời sống đồng bào đã được xóa bỏ, nhưng thực tế các hủ tục ấy đã có những biến thái mới ở một số buôn làng, nhất là tục thách cưới.
Cộng đồng người Chu Ru ở thôn Kan Kil, xã Próh (Đơn Dương), hay ở xã Tà Năng (Đức Trọng, Lâm Đồng) vẫn còn tồn tại hủ tục thách cưới nặng nề mỗi khi người phụ nữ tuổi cập kê đi “kiếm tấm chồng”. Già làng Ya Du, trưởng thôn Próh Ngoh, cho biết: Bây giờ, nhiều nhà người Chu Ru trong thôn vẫn còn thách cưới cao, từ 1 đến 2 cây vàng, hoặc chí ít cũng 5 chỉ trở lên.
Bà Tuteng Ma Bao, người Chu Ru ở xã Ka Đơn có đến chín người con - 5 trai, 4 gái. Ba con trai đã đi lấy vợ, bà cũng “đòi” được của nhà gái đưa mỗi đứa ba chỉ vàng. Nhưng con gái bà bắt chồng, bên nhà trai quyết liệt đòi từ 1-1,5 lượng vàng. Cực chẳng đã, bà Ma Bao đã phải bán dần cho đến những mảnh ruộng cuối cùng và bây giờ phải kiếm sống từ việc bắt cua đồng. Gia đình sống trong một căn nhà tình thương nhỏ bé, bên cạnh một túp lều cũ rách dùng làm bếp. Trong nhà bếp không có lấy một hạt gạo, ngoài vườn không một cây bắp, khóm bí.
Những người mẹ khác như Tu Prong Mapia (80 tuổi, người Chu Ru, thôn Ka Đê), Jơ Lâng Ma Ních (73 tuổi, người Cơ ho, xã Próh)...cũng đã khuynh gia bại sản để cho 5 - 6 cô con gái của họ được...“bắt chồng”. Nhiều gia đình khác trở thành “chúa chổm” vì lo “kinh phí bắt chồng cho con”.
Gia đình bà Pdum Ma Nhen, người Chu Ru, xã Ka Đơn: Cô con đầu “bắt chồng”, nhà trai đòi 8 chỉ vàng, 5 triệu tiền mặt, 10 cái khăn (trị giá từ 100-500 ngàn đồng/cái); 15 dây cườm (300 ngàn đồng/dây). Đến con thứ, nhà trai đòi 8 chỉ vàng; 5,7 triệu đồng; 9 cái khăn; 12 dây cườm. Đám cưới đầu tiên bà Ma Nhen đi vay 20 triệu đồng, bà thỏa thuận nộp cho chủ nợ 80 bao lúa.
Cô thứ hai đi “bắt chồng”, bà cho thuê 2 sào ruộng trong 10 năm để đổi lấy 5 chỉ vàng. Và vay thêm 5 chỉ nữa, mỗi chỉ vàng phải trả 30 ngàn đồng tiền lãi một tháng. Tính nguyên tiền lãi mỗi tháng bà Ma Nhen phải trả một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng. Một số tiền cực lớn đối với một hộ nghèo người dân tộc Chu Ru!…
Việc thách cưới cao hay thấp tùy thuộc vào dòng họ của nhà trai lớn hay nhỏ, tùy thuộc vào “giá” của chàng con rể tương lai. Ngày nay, nhà trai thường “ra giá” 5 - 6 triệu đồng tiền thách cưới thay lễ vật. Nếu như nhà trai không chịu cho con của họ về nhà gái, họ sẽ đòi nhà gái thêm một lần tiền như vậy nữa mới được “bắt” về. Bởi vậy, nếu sơn nữ nhà nghèo không bắt được chồng về thì phải theo ở nhà trai, khi nào làm gom đủ số vốn trả nợ lúc thách cưới khi đó mới được phép đón chồng về nhà mình.
Cũng có nhiều trường hợp vì thách cưới quá cao, nên hai bên trai gái ăn ở với nhau có mấy mặt con rồi mới gom góp đủ tiền làm lễ cưới. Nhà ông Ya Thang ở buôn Próh Ngoh có thằng Ya Leo vào tuổi trưởng thành. Ông nói: “Nhà Ma Oanh phải đưa tao 5 chỉ tao mới ưng cái bụng mà gả con trai cho”.
Còn nhà Ma Lan đòi 6 chỉ vàng mới cho nhà gái bắt con trai mình, kèm theo tiệc tùng mổ bò, giết heo để mời cả bà con dòng họ. Và còn rất nhiều nhà trai “ra giá” kiểu như thế ở cái thôn miền núi còn lắm khó khăn này mà đám cưới cô Jơlông Ma Hờm vào tháng 12 - 2009 sắp tới sẽ là một kỷ lục, khi gia đình cô phải trao cho nhà chồng 50 triệu đồng, và kinh phí tổ chức đám cưới sẽ hết 50 triệu nữa…
Ông Ya Bây ở xã Tà Năng (Đức Trọng), một người đàn ông Chu Ru có 5 người con gái, nói:“Bây giờ một nhà mà có nhiều con gái như tao là khó khăn lắm, nào phải chia ruộng đất, trâu bò cho nó; nếu nó xấu, không bắt được chồng thì phải nuôi nó, nếu bắt chồng được thì tiền thách cưới hơn cả cây vàng, có khi còn bù thêm 5 chỉ nữa nhà trai mới chịu.”
Ðám cưới người dân tộc thiểu số bây giờ linh đình hơn, làm tiệc lớn, có khi kéo dài mấy ngày, có nhạc sống, có trống chiêng thâu đêm suốt sáng. Chúng tôi là vị khách không mời của đám cưới nhà Ha Rong Bình, tổ chức cho con gái bắt chồng, một đám cưới có “quy mô” vào loại trung bình. Ngồi bên già Ha Gút, tôi hỏi: Đám này thách bao nhiêu? “Ồ, hơn 5 triệu đấy, nhà gái còn phải làm heo, mổ trâu mời hết cả bà con trong buôn cùng dự tiệc”.
Ðối với người Cơ Ho Cil ở đây tiệc cưới vẫn thường kéo dài vài ngày khi con gái bắt chồng. Nếu như ngày xưa “đồng la ba chóe” (lễ vật thách cưới), thì nay lễ vật nhà gái phải nộp cho nhà trai vẫn là: đồng la, chóe, tô, chén, chuỗi cườm, ùi (khăn quấn)... trị giá lễ vật hết khoảng 2 cây vàng, không kể việc nhà gái tổ chức tiệc tùng đãi cả già trẻ, lớn bé trong buôn.
Gánh nặng … tương lai.
Tục bắt chồng "man rợ", Tin tức trong ngày,
Đã có 3 mặt con nhưng cô Nai Hem vẫn chưa trả hết nợ bắt chồng.
Huyện Đơn Dương chỉ cách thành phố Đà Lạt khoảng 40 km, nhưng khi tìm hiểu về tục bắt chồng và thách cưới ở đây, chúng tôi cảm tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác. Ví như ở xã Ka Đơn có 538 hộ người Cơ Ho, 215 hộ người Chu Ru vẫn đang lưu giữ tục “bắt chồng”.
Theo đó, người con gái đến tuổi lấy chồng sẽ được cha, mẹ hoặc người mai mối tìm cho một tấm chồng. Nếu được ưng thuận, tất cả việc đám hỏi, đám cưới do nhà gái lo liệu. Sau khi cưới, chàng rể về sống bên nhà vợ.
Một “tấm chồng” thông thường ở Ka Đơn hiện nay có giá từ 1- 1,5 lượng vàng, kèm theo 5-10 triệu đồng tiền mặt. Cá biệt, như đã nói ở trên, có đám mà giá được nhà trai đưa ra ngất ngưởng, từ 2 - 5 lượng vàng, kèm theo...50 triệu tiền mặt.
Đa phần người Chu Ru ở Đơn Dương hiện nay không cho nhà gái tổ chức đám cưới, nếu chưa giao đủ lễ vật. Tất cả những trường hợp nợ do bắt chồng trước đây, nếu để qua ba đời mà không trả được, khi “con nợ” chết gia đình vẫn phải làm thịt trâu, bò để cúng. Dân làng vẫn đến dự, nhưng rất lạ là tất cả đều không ăn. Còn với tộc người Cơ Ho, luật tục cho phép trong hoàn cảnh quá ngặt nghèo gia đình phía vợ được nợ các lễ vật trong đám cưới. Họ có thể trả dần và dĩ nhiên đôi vợ chồng trẻ phải nai lưng ra làm để trả. Trong trường hợp cặp vợ chồng này không trả hết thì đến đời con, đời cháu phải trả.
Chính vì vậy mà những gia đình có đến năm, bảy cô con gái thì coi như là tai họa trên trời rơi xuống. Vì thế mà có nhiều gia đình chỉ đủ tiền bắt chồng cho một trong số năm, bảy cô con gái của mình, số còn lại đành chấp nhận “ở giá”. Chị Nai Thu, một cán bộ phụ nữ xã, tính giùm tôi riêng thôn Próh Ngó (xã Próh) đã có tới 14 cô không thể bắt được chồng.
Nhưng vì thương con, nhiều gia đình trong các tộc người đã làm tất cả những gì có thể để “mua hạnh phúc” cho con gái mình: có người bán trâu, bò, có gia đình vay ngân hàng, cầm cố nhà cửa, ruộng đất, vay nợ bên ngoài với lãi suất cao ngất ngưởng. Có gia đình bán hết ruộng đất của cha ông để lại, bán cả ruộng đất do nhà nước cấp, để con gái của họ…có một tấm chồng cho bằng chị bằng em…
Bên cạnh những phong tục truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày nay đã trở thành những nét văn hóa đặc sắc, thì nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn dai dẳng đeo bám, không chỉ cản trở nếp sống văn minh mà còn là những nguyên nhân trực tiếp đẩy không biết bao nhiêu thân phận lâm vào bi kịch.
Từ tục “bắt chồng” đến tệ “thách cưới” là một câu chuyện dài mà với phóng sự nhỏ này thật khó nói hết. Vốn là một tập tục truyền thống của những tộc người theo dòng mẫu hệ mà ở nhiều nơi đã biến thái thành những hành vi thực dụng. Cùng với những hủ tục lạc hậu khác, hệ lụy của nó đã gặm nhấm trực tiếp vào cuộc sống đồng bào, từ kinh tế đến đời sống tinh thần xã hội.
Đã đến lúc, cần có sự can thiệp của bộ máy chính quyền và các đoàn thể, mà trước hết là đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền, với mục tiêu mang lại hạnh phúc bền vững cho những lứa đôi, giảm bớt sự bần cùng cho các gia đình vốn đã nghèo mà còn phải bán chác, cầm cố, vay mượn và bằng mọi cách để hòng “mua hạnh phúc” cho con cái mình.  
 
Vì cha mẹ nghèo, không có tiền để bắt chồng, cô gái này đã trở thành người phụ nữ đơn thân .
Hiện nay, ở các buôn làng Tây Nguyên, có rất nhiều phụ nữ độc thân, đơn thân do không bắt được chồng được vì nghèo, không có tiền, vàng, vì hình thức không đẹp, vì cha mẹ không có con trai để trao đổi cho nhau.
Từ chế độ mẫu hệ, phụ nữ có quyền lực và được quý trọng hơn nam giới (khi người vợ chết, người chồng phải khăn gói trở về bên nội), nhưng trước gánh nặng của tập tục thách cưới, giờ đây nhiều gia đình dân tộc thiểu số muốn sinh cả con trai con gái để thực hiện “giải pháp” có qua, có lại.
Tục bắt chồng, thách cưới đã hệ lụy đến kế hoạch hóa gia đình. Và hơn hết, hủ tục đã làm cho sự nghèo túng mãi mãi đeo bám trên những mái nhà, những buôn làng, những nẻo đường cao nguyên.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Nghi lễ tân hôn


A. Lễ VU QUY (Gái xuất giá)

Tổ chức tại nhà họ gái.

1. Lễ nhập gia: Họ nhà trai đến, báo họ nhà gái biết đ
ể xin vào.

2. Lễ trình sính phẩm, lễ vật: Gồm đôi đèn, cặp rượu, trà, mâm trầu cau và các quả bánh, trái cây.

3. Lễ bái gia tiên (Lễ lên đèn, lễ bái Từ Ðường): Người điều hành lễ đứng quay mặt vào bàn thờ, chú rể đứng bên phải và cô dâu đứng bên trái người điều hành lễ.



Thân tộc họ đàng gái đứng bên phải cạnh bàn thờ.

Thân tộc họ đàng trai đứng bên trái cạnh bàn thờ (nam tả nữ hữu tính từ hướng trong bàn thờ nhìn ra.)

4. Lễ khai lộc (lễ dỡ mâm trầu): nếu có (xem nghi thức khấn vái)

5. Lễ trình sính nghi:

Nữ trang hoa tai (đôi bông tai, dây chuyền vòng xuyến) mẹ chồng hay đại diện đeo cho cô dâu, nhẫn (nếu có) trai gái đeo nhẫn cho nhau.

Tiền mặt.

6. Lễ yết kiến nhạc phụ mẫu: Rể ra mắt cha mẹ vợ và thân thuộc bên nhà vợ (xem nghi thức diễn đạt). Ðược phép gọi cha mẹ nhau.
7. Lễ thân nghinh (lễ rước dâu): Xin rước dâu và cung thỉnh quý tộc họ nhà gái đưa dâu và mời dự tiệc tại nhà trai.

B. LỄ TÂN HÔN
Lễ cưới tổ chức tại nhà họ trai
1. Lễ trình sính phẩm lễ vật: Lễ vật của họ nhà gái dâng cúng thường đôi đèn tống hôn và hai quả bánh.
2. Lễ bái gia tiên (Lễ lên đèn, lễ bài Từ Ðường):
3. Lễ yết kiến công cô (lễ ra mắt cha mẹ chồng): Dâu bái yết cha mẹ chồng và thân thuộc bên nhà chồng.
Lễ bái tạ hai họ trai gái.
Lễ bái tạ băng nhân (ông tơ bà mai)
4. Lễ phu thê giao bái: Vợ chồng giao bôi hiệp cẩn.
5. Lễ từ quy (lễ kiếu, lễ cáo từ): Do họ nhà gái trình
6. Lễ tiễn đưa: Lễ đưa do họ nhà trai trình
NGHI THỨC KHẤN VÁI

A. Lễ bái gia tiên (lễ lên đèn, lễ từ đường)
a. Những điểm cần lưu ý:
1. Khui rượu và rót rượu vào ly trên bàn thờ.
2. Các quả bánh, trái cây được mở mâm ra. Có thể một ít bánh trái cây được sắp vào đĩa đặt trên bàn thờ
3. Mâm trầu cau (nếu có) giữ nguyên để đến lễ dỡ mâm trầu mới dỡ ra
4. Cha mẹ, thân tộc họ hàng nhà trai đứng cạnh bàn thờ phía trái, cha mẹ thân tộc nhà gái đứng cạnh bàn thờ phía mặt.
5. Mai nhân hay người điều hành lễ đứng trước bàn thờ mặt day vào bàn thờ trai (rể) đứng bên phải người điều hành lễ. Gái (dâu) đứng bên trái. (dâu, rể đều quay mặt vào bàn thờ).
6. Ðốt sẵn bốn cây nhang (nếu có nhang đại càng quý) cháy sẵn để trên bàn thờ khi tới khấn cùng nhang. Người điều hành lễ sẽ lấy cầm vái.
7. Ðốt đôi đèn chậm rãi cẩn thận tim đèn cháy thật tốt và hai ngọn cháy bằng nhau, nếu cây nào cháy còn yếu, nghiêng tim xuống cho ngọn lửa cháy đều. Bình tĩnh đợi khi cháy đều mới bắt đầu.
8. Cầm đôi đèn nhớ nhìn hàm rồng và mỏ của phượng phải giao nhau.Tức là cây rồng ở tay phải và cây đèn phụng ở tay trái.
b. Nghi thức khấn vái
Người điều hành lễ cầm đôi đèn bằng hai tay vòng cung ngang tầm mắt; hình rồng và hình phụng ngay trước mặt mình...
Người điều hành lễ quay mặt ra ngoài (2 tay vẫn vòng cung cầm đèn) để khấn vái cáo tri trời đất và vái lớn rõ ràng như sau: (khấn phải thuộc lòng)
1. Lễ khấn cáo trời đất
Từng nghe rằng: Ðạo vợ chồng có thiên chức là trưởng dưỡng và sanh hóa để gây mối cho ÐẠO TRỜl ÐẤT và là giềng mối chính của ÐạO CON NGƯỜI.
Chí thành long trọng khấn cao cùng HOÀNG THlÊN HẬU THỔ linh ứng chứng giám lễ Vu Quy (Thành Hôn).
Người điều hành lễ dứt lời, quay lưng xoay mặt vào bàn thờ.Tay mặt đưa cây đèn rồng cho rể đang đứng ở tay mặt (cầm hai tay). Tay trái đưa cây đèn phụng cho dâu đang đứng ở tay trái (cầm vòng). Trao đèn xong người điều hành lễ bước tới lấy bốn cây nhang (đã đốt sẵn ở bàn thờ) và vòng cung tay cầm nhang ngang tầm mắt để khấn vái tiếp.
2. Lễ bái gia tiên (phần 1)
Hôm nay ngày, tháng, năm (âm lịch) trân trọng Thiết Trần sính phẩm lễ vật cống hiến cúng thành kính dâng lên: Hoàng Thiên Hậu Thổ Chí Linh, Tơ Hồng Nguyệt Lão Thiên Tiên, chư vị Tổ Tiên Phụ Mẫu.
Từ ngàn xưa trời, đất phối hợp có âm dương, con người sánh đôi bởi vợ chồng, cho nên có âm dương có vợ chồng. Dẫu Thiên Ðịa cũng vòng phu thê.
Hôn nhân là mối đầu của muôn sự sinh hóa nên được coi là nguồn gốc chính xây dựng gia đình và gia đình luôn là nền tảng vững bền của xã hội, sức mạnh tiềm ẩn của quốc gia, rất hệ trọng và mật thiết cho sự phát triển giống dòng cũng như duy trì quy luật sinh tồn truyền thống của nhân loại: Ðạo vợ chồng là đạo cả tam cang, là nguồn gốc chinh nhân luân đạo giới.
Tình yêu chân chính tiến đến hôn nhân mới là hạnh phúc thật sự vì yêu đương nhau là thuộc về nhau trọn vẹn và kết hợp lại chồng với vợ tuy hai là một, một tâm hồn cao quý, một thể xác tuyệt vời, cùng quý yêu nhau như quý yêu chính bản thân mình, không được ghét bỏ nhau cũng như không bao giờ phân rẽ:

"Nghĩa vợ chồng gắn bó trăm năm

Tình chồng vợ thủy chung một dạ".

Ðể phong tục tập quán có một nền gốc có quy củ vững vàng. Người xưa đã đặt ra nghi lễ hôn nhân, ngoài sự nêu cao giá trị tối quan trọng câu nghĩa vợ chồng với tình cảm yêu đương cao quý cùng sự thủy chung vẹn nghĩa trọn tình, còn có mục đích tối hậu là bảo tồn tinh thần gia tộc, đề cao đạo hiếu thảo, rèn luyện xây dựng con người biết tự trọng và tôn trọng lẫn nhau, biết giữ tròn nhân cách trong đời sống phù hợp với

Ðạo lý luân thường

Tôn trọng và tuân hành đúng theo nghi lễ tất nhiên gặp không ít điều khắt khe phiền toái, nhưng chính đó là yếu tố để bảo vệ tinh túy phong hóa dân tộc, theo đà văn minh tiến bộ, phân biệt cái dở biết bỏ, điều hay phải theo, hầu duy trì vĩnh cửu lễ giáo gia phong, thuần phong mỹ tục lưu truyền đến ngàn sau hậu thế soi gương. Cho dẫu yêu nhau thắm thiết đậm đà, chưa làm hôn lễ, chưa thành vợ chồng. (dứt lời, người điều hành lễ đưa ra mỗi bên 2 cây nhang (họ trai, họ gái) cha mẹ hay đại diện tiếp lấy nhanh xá và cắm vào lư nhang trên bàn thờ.

3. Lễ bái giao tiên (phần 2)

Trao nhanh xong người điều hành lễ khấn vái tiếp nói: Trai (họ tên) tay phải cầm cây đèn rồng của rể và gái (họ tên) tay trái lấy cây đèn phụng của dâu cầm chung lại và cung vòng tay vái:

Nay, lệnh lang (họ tên chồng) lệnh ái (họ tên vợ) được sự chuẩn thuận của đấng sinh thành và qua lễ đính hôn ngày-tháng-năm (âm lịch) vẫn ninh tấc da như trời có sao. Như trăng có nước, như đũa có đôi, đồng nguyện cùng nhau thành vợ thành chồng, trăm năm nghĩa thắm tình nồng, tròn duyên trọn nợ một lòng sắt son.

Nay chọn được tháng đại lợi, ngày lành, giờ tốt, lạc thành lễ: vu quy, thành hôn, hợp hôn.

Chí thành khấn nguyện Hoàng thiên Hậu Thổ Chí Linh, Tơ Hồng Nguyệt Lão Thiên Tiên, chư vị tổ tiên Phụ Mẫu hiễn linh chứng giám.

Nguyện cầu gia huệ cho hai họ hôn nhân (họ trai, họ gái) bá niên giai lão tình qua cát luôn luôn thuận thảo, nghĩa thông gia mãi mãi thắm nồng.

Nguyện cầu phò hộ cho đôi tân hôn (họ tên chồng, họ tên vợ) an khang trường thọ, trọn duyên nợ trăm năm hảo hiệp, vẹn thủy chung hạnh phúc trọn đời; phận chồng biết cần biết kiệm, có nghĩa có nhân xứng danh chồng tốt, rể quý; hạnh vợ trinh hậu đảm đang, đẹp nết vợ hiền, khéo thuận, khéo tùy, rạng gương dâu thảo.

Luôn tâm niệm rằng tất cả mọi kho báu trên thế gian này không có gì sánh được bằng hạnh phúc gia đình để cùng nhau đắp xây tô điểm ngày thêm ấm cúng vững bền, gia đạo hòa thành, phúc lộc gồm hai, sớm trổ sanh trai hiếu, gái hiền, vun bồi đức nghiệp cha ông, tông đường hai họ (họ nhà trai, họ nhà gái) đời đời rạng rỡ.

Trân trọng vạn vọng.

Dứt lời người điều hành lễ hai tay đưa đèn ra hai bên. Họ gái, họ trai mỗi bên nhận đèn, xá 2 xá và trao cho người tiếp đèn cắm vào lư chưng đèn. Khi đôi đèn đã cắm xong hoàn chỉnh, ngay ngắn. Rể, dâu cùng lạy tổ tiên 4 lạy.

B Lễ Khai Lộc (dỡ mâm trầu)

(Lễ vu quy) phù lang

- Người điều hành lễ, rể dâu.(đứng y như lễ bái gia tiên)

- Chuẩn bị 2 dĩa bàn để đựng trầu cau

- Cũng đốt 4 cây nhang, khi vái xong, dâu sẽ lấy trầu nhớ lấy chẳn (6 lá hoặc 12 lá) để vô đĩa. Rể sẽ tét cau cũng chẳn 2,4 hay 6 trái để vào dĩa trầu. Hai dĩa. Một cúng trên bàn thờ, một dĩa đem đãi, cho hai họ ngồi (mấy bàn). Người điều hành lễ cầm 4 cây nhanh cung vòng tay ngang tầm mắt vái lớn rõ ràng.

Khấn vái

- Tục lệ từ Hùng Vương, lưu mãi đến ngàn sau, sính phẩm lễ hôn nhân mâm trầu cau truyền thống, kết tinh tình cao quí, thủy chung đạo vợ chồng keo sơn nghĩa đệ huynh.

- Chí thành khấn nguyện: Hoàng thiên Hậu Thổ Chí Linh, Tơ Hồng Nguyệt Lão Thiên Tiên, Chư vị Tổ Tiên Phụ Mẫu.

- Linh ứng chứng minh lễ khai lộc phù lang.

- Nguyện cầu phò hộ đôi tân hôn (họ tên chồng, họ tên vợ):

Dù cho vật đổi sao dời.

Tình chồng nghĩa vợ trọn đời bên nhau.

- Phu thê giao bái: Chồng vợ cạn chung rượu trao đổi nhau và làm lễ giao bái giữa nhau.





Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Một cách phân tích Tiếng Việt

TIẾNG VIỆT HUYỀN DIỆU: GIẢI PHẪU TIẾNG VIỆT





 

LGT: "Giải Phẩu Tiếng Việt" là bài thuyết trình
của BS Nguyễn Xuân Quang tại Đại Hội Y Sĩ Việt Nam ở Atlanta, Georgia- Hoa Kỳ
được tổ chức vào từ 1.11 đến 4.11.2007.


 

  * * * 

 

Một sinh viên y khoa muốn hiểu rõ về cơ thể con người
cần phải mổ xẻ xác người. Muốn hiểu rõ ngôn ngữ Việt ta cũng cần phải mổ xẻ các
từ Việt ra để nghiên cứu. Xin đưa tiếng Việt lên bàn mổ xem có thể học hỏi được
điều gì chăng? Trong Tiếng Việt Huyền Diệu tôi đã viết một chương về Giải Phẫu
Tiếng Việt với tính cách bao quát, ở đây xin khai triển thêm. Muốn nghiên cứu
một từ chưa hiểu rõ nghĩa nhất là những từ dùng trong truyền thuyết, cổ sử,
triết thuyết, tín ngưỡng, ta cần phải dùng tới dao kéo.

Trước hết xin có vài dòng để “soạn mổ”. Chữ viết chỉ là
ký tự chuyên chở âm và nghĩa ngữ. Dù dựa vào chữ quốc ngữ hiện nay hay chữ nôm
hay một thứ chữ cổ nào đó (có thể là chữ nòng nọc còn ghi khắc trên trống đồng
âm dương Đông Sơn của người cổ Việt đã dùng) để truy tìm các âm và nghĩa của
tiếng Việt cũng không thành vấn đề. Vì thế ta có thể dùng chữ quốc ngữ để nghiên
cứu tiếng Việt. Nhưng phải nhớ là ta phải chú trọng tới âm, thanh, để tìm nghĩa
gốc hay nghĩa gần nguyên gốc của một từ không nên gò bó, trói mình vào các qui
luật ngữ pháp của chữ viết abc hiện nay một cách quá “mô phạm” và máy móc, mù
quáng. Các qui luật về ngữ pháp của chữ quốc ngữ abc hiện nay đã đóng khung âm
và nghĩa của tiếng Việt trong khi đó người cổ Việt dùng âm và nghĩa biến dịch
linh động theo âm dương của Dịch nòng nọc. Từ có thể là một hay do nhiều chữ
ghép lại. Do đó ta có thể giải phẫu một từ ra làm nhiều phần, nhiều chữ để truy
tìm nguồn gốc của âm, truy tìm tầm nguyên nghĩa ngữ. Mỗi chữ cái dù là nguyên âm
hay phụ âm cũng là một ký hiệu chuyên chở âm, thanh, tiếng nói đã có ý nghĩa.
Các chữ viết từ ngày xưa tới nay của loài người dù là loại chữ viết nào đi nữa,
từ linh tự (hieroglyph) Ai Cập cổ, chữ thánh hiền Trung Hoa, chữ thượng đế Phạn
ngữ cho tới chữ quốc ngữ abc đều là di duệ của chữ nòng nọc thái cổ. Chữ
nòng nọc là chữ cổ nhất của loài người gồm có hai chữ cái nòngvòng
tròn (O)
nọc là hình que (I) (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm
Dương Đông Nam Á). Nghiên cứu tiếng Việt phải dựa vào nòng nọc, âm dương nền
tảng của Dịch lý
(Tiếng Việt Huyền Diệu).

Nếu nhìn dưới diện chữ quốc ngữ không thôi thì giản dị
là giải phẫu chữ quốc ngữ abc ta có thể học và nghiên cứu chữ quốc ngữ abc tức
tiếng Việt hiện kim.

. . . . . .

Sau phần “soạn mổ” vừa trình bầy, bây giờ xin rửa ta,
đeo găng tay, cầm dao kéo và “nhúng tay vào máu”.

 

Vì phạm vi của bài viết chỉ xin mổ xẻ vài ba từ làm ví
dụ.

 

.KHÔNG

 

a. Cắt bỏ một chữ.

-Cắt bỏ chữ K đầu chữ còn lại HÔNG. Hông, hổng, hỏng
cũng có nghĩa là không như đi mau mà về nghe hông, hông
biết, hỏng biết, hổng thèm, hỏng có... Hỏng, hổng là
rỗng, trống không như lỗ hổng, Hán Việt khổng là lỗ. Ta có hỏng,
hổng, hông = khổng, không.

-Cắt bỏ chữ H còn lại KÔNG. Kông, cong có một
nghĩa là tròn, vòng tròn O ruột thịt với không có nghĩa là số
không
O như thấy qua từ ghép cong vòng tức cong = vòng, cái
cong, cái cóng (gạo) hình tròn vo, cái còng = cái
vòng (đeo tay) có hình vòng tròn O. Kông, công cũng có một nghĩa là
cóc, là không (xem dưới) như thấy qua từ đôi công cóc nghĩa
là công = cóc. Công cóccông không. Cần phân biệt công
cóc
với công cốc. Công cốc có nghĩa là công của con
cốc, làm đi nữa thì cũng công cốc mà thôi có nghĩa là
làm giống như con cốc ra công bắt cá mà chẳng được ăn (vùng Nam Trung Hoa như ở
Quế Lâm người đánh cá dùng con cốc bắt cá, cho cốc đeo một cái vòng ở cổ cho
chúng không nuốt được cá). Công cóc và công cốc có nghĩa giống nhau nên hai từ
công cóc và công cốc thường dùng lẫn lộn với nhau.

-Cắt bỏ chữ N còn lại KHÔG. Khog = khoc, với h câ m,
khoc = c ó c. Cóc có một nghĩa là không như cóc cần, cóc
biết
, cóc thèm ăn. Với nghĩa cóckhông ta thấy rất
rõ tại sao con cóc lại liên hệ với trống, tại sao trên trống đồng có
những hình tượng cóc. Theo qui luật từ đôi trống không ta có trống
= không. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, trống là tiếng
nói của hư không (tiếng trống thu không). Con cóc có một nghĩa là không
nên liên hệ với trống, với hư không. Việt ngữ cóc soi sáng sự tranh luận của các
nhà khảo cứu trống đồng âm dương về các tượng loài lưỡng thê trên trống đồng âm
dương là cóc hay ếch? Qua nghĩa con cóc là con không ta thấy các
tượng ngồi ở biên trống đồng âm dương nghiêng nhiều về cóc, cóc có một khuôn mặt
mang tính chủ (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

-Cắt bỏ chữ G cuối cùng còn lại KHÔN có một nghĩa là
không như khôn lường, khôn dò, khôn nguôi. Từ Khôn
này chính ta từ Khôn dùng trong Dịch nòng nọc. Quẻ Khôn viết bằng ba hào
âm
, viết theo chữ nòng nọc là ba vòng tròn nòng O tức OOO. Khôn là không, hư
không. Khôn cũng có âm dương, Khôn O thái dương II là gió, Tốn OII. Khôn O thái
âm OO là Khôn nước vũ trụ. Các tác giả Việt Nam viết về Dịch thường theo Dịch
Trung Hoa cho rằng Khôn là Đất. Càn Khôn là Trời Đất. Khởi đầu vũ trụ tạo sinh
bắt nguồn từ âm dương (lửa nước) chưa có đất. Hiểu Khôn là đất là hiểu theo Dịch
Trung Hoa là thứ Dịch rất muộn màng, một thứ Dịch thế gian duy
tục.

 

b. Cắt bỏ nhiều chữ

 

-Cắt bỏ hai chữ đầu KH còn lại ÔNG. Ông, ống là vật
tròn dài trống rỗng, trống không có một nghĩa là rỗng, không. Hán Việt gọi rau
muống là ông xôi với ông có nghĩa là rỗng, rau muống là rau trống
rỗng.

-Cắt bỏ hai chữ sau cùng NG còn lại KHÔ. Qua từ đôi
cóc khô (nó biết cái cóc khô gì đâu mà hỏi nó), ta có cóc = khô.
Cóc có một nghĩa là không thì khô bắt buộc cũng phải có
nghĩa là không.

-Cắt bỏ ba chữ

.Cắt bỏ K, N, G còn lại HÔ. Mường ngữ
không.

.Cắt bỏ H, N, G còn lại KÔ. K ô = phương ngữ Huế O là
cô. O, có một nghĩa là không. Cô, O thuộc dòng Nòng, Khôn (âm, nữ,
mẹ).

-,Cắt bỏ hết bốn phụ âm

Cắt bỏ hết bốn phụ âm còn lại Ô. Hiển nhiên Ô có gốc O,
có một khuôn mặt là chữ nòng O, ruột thịt với số zero 0.
Ô, O, 0 có một nghĩa là không.

 

.CHẠNG, CHÁNG

 

từ cháng, chạng chỉ chỗ ngã ba cành hay thân cây.

 

-Cắt bỏ C, còn lại HÁNG, chỗ ngã ba thân người trông
giống cháng, chạng cây. Háng là chỗ ngã ba thân người, chỗ cháng, chạng thân
người. Anh Ngữ crotch, chạc, chạng, cháng cây, háng, bẹn; crotch
itch
là chứng ngứa ở háng hay bẹn tức bị hăm vì bị vi nấm mọc.
Với r câm, c(r)ot- = cột, cọc. Ta thấy háng
crotch có gốc từ cây, từ chạc cây giống hệt Việt ngữ háng. Háng và
croth là chỗ ngã ba thân người giống như chạc, cháng, chạng cây.

-Cắt bỏ H, còn lại CÁNG. Người cổ dùng cáng bằng cành
cây để tải thú, thức ăn, ngày nay ta dùng cáng để chở người, tải thương. Cáng
nguyên thủy là cành cây chẻ hai hay cháng cây. Để hai nhánh chẻ xuống mặt đất
dùng như hai chân rồi đặt dồ lên trên và kéo phần cán, phần thân. Cáng là cháng
cây còn thấy rõ qua Pháp ngữ brancard, cáng, ruột thịt với
branche, Anh ngữ branch, cành cây. Cáng là cháng, chạng cây đẻ hai
dùng tải đồ. Về sau con người làm hai cái bánh xe móc vào hai nhánh đặt xuống
đất phát minh ra được chiếc xe như xe kéo, xe cút-kít, xe ba gác để chuyên chở,
tải đồ. Cáng biến âm với Càng. Càng cua, càng tôm mang hình ảnh của cháng
cây chẻ hai.

-Cắt bỏ N, còn lại CHẠG = chạc (cháng, chạng cây). Người
Bắc hay dùng từ chạc này.

-Cắt bỏ G, còn lại CHẠN. Chạn nguyên thủy là chiếc giá
cây làm bằng cháng cây để gác, cất hay phơi thức ăn. Ngày nay chạn là chỗ cất
giữ thức ăn.

-Cắt bỏ H và G, còn lại CÁN, tay cầm. Cán biến âm với
cần (cây, que như cần câu), Hán Việt can, gậy, với cành
nghĩa liên hệ với cháng, chạng. Theo biến âm c=h, ta có cán =
handle. Handle có gốc handtay. Tay người tương đương
với cành cây như thấy qua Hán Việt chi là tay chân và cũng có nghĩa là
cành cây. Rõ ràng cán, cần, can = cành =
hanle. Ở đây ta cũng thấy rõ cán ruột thịt với cáng đã nói
ở trên liên hệ với cành cây. Ta cũng thấy càng cua, càng tôm là một thứ tay rõ
ràng liên hệ với chi, cành, cháng, chạng và với nghĩa là “tay cầm”, cán ruột
thịt với càng là một thứ tay để cầm, kẹp.

-Cắt bỏ NG, còn lại CHẠ, CHÁ.

Chá, chà
chạc, gạc (c=ch= g) như nai chà l à nai chạc, nai
gạc,
nai có sừng trông như chạc cây; là nhánh, cành cây như chổi chà
là chổi làm bằng nhánh cây nhỏ. Chá, chà liên hệ với Hán Việt
chi, cành nhánh.

 

.CHẾT

 

Chết là khuôn mặt đối nghịch của sự sống, là khuôn mặt
hủy diệt ngược với khuôn mặt sinh tạo.

-Cắt bỏ chữ C đầu, còn lại HẾT. Chết là hết.

-Cắt bỏ chữ H, còn lại CẾT = KẾT. Chết là kết thúc, là
chấm dứt, như kết liễu cuộc đời. Cết, kết liên hệ với hậu tố
-cide, giết, làm cho chết như homicide, giết người,
sát nhân.

-Cắt bỏ chữ T cuối, còn lại CHẾ. Tang chế liên hệ
tới chết.

-Cắt bỏ hai chữ CH đầu, còn lại ẾT. Ết biến âm
với út là chót, cuối cùng, hàm nghĩa kết. Từ ết cũng có thể
coi như từ hết với h câm.

-Cắt bỏ cả ba phụ âm C, H, T một lúc, còn lại Ế. Ế có
nghĩa là không như ế chồngkhông có chồng, ế
khách
không có khách. Không, không còn có một nghĩa là
mất. Mất là chết như ông ta mất tối hôm qua rồi. Chết là trở về
cõi không.

 

Những từ kể trên ta biết nghĩa khá rõ, nên tương đối
dễ, trong nhiều trường hợp, nghĩa g ốc của từ ta không biết. Đây là những trường
hợp giải phẫu rất hữu ích. Ví dụ như từ Sống.

 

.SỐNG

 

SỐNG là gì? Tôi nghĩ, không ai trong chúng ta biết chắc
nghĩa gốc của sống là gì. Bây giờ ta hãy giải phẫu từ SỐNG xem
sao.

 

-Cắt bỏ S còn lại ỐNG, thân cây tròn thẳng, rỗng như cây
cột ví dụ như ống tre.

-Cắt bỏ N còn lại SỐG = sóc, một loại cây đòn
nhọn đầu như đòn sóc (xóc), đòn càn, theo biến âm s=c, sốg,
sóc biến âm với cọc.

-Cắt bỏ G còn lại SỐN, biến âm với Hán
Việt
CỐN, CÔN. Cốncan (gan) liên hệ với can (gậy),
theo Đông Y cốn, can, gan thuộc về mộc (cây). Hán Việt
côn là gậy.

Như thế ta thấy SỐNG có gốc nghĩa là CÂY, CỘT, GẬY.
Thật vậy ta cũng thấy SỐNG có một nghĩa là cột, cây qua tên xương SỐNG
lưng
hay còn gọi là CỘT SỐNG. Theo qui luật của từ ghép, từ đôi ta có CỘT =
SỐNG. Xương sống hình cây cột, là xương cột trụ của thân người, ta cũng thấy
rất rõ qua từ Anh ngữ là vertebral column. Xương SỐNG là xương CỘT. Từ
SỐNG có gốc nghĩa là cột, cây, cọc vì thế mà từ SỐNG còn có một nghĩa nữa nghĩa
là TRỐNG như gà sống = gà trống.
Trống là đực là nọc, là
cọc, là cây, là cột.. Ta cũng gọi phần cột trụ phía lưng của con dao tức gọng
dao
sống dao.

Tại sao Sống lại có gốc nghĩa là cột, là cây? Xin thưa SỐNG
có nghĩa là Cây là dựa theo Vũ Trụ Tạo Sinh. Sự SỐNG do CÂY ĐỜI SỐNG sinh ra.
Thật vắn tắn xin nhắc lại Vũ Trụ Tạo Sinh khởi đầu là Hư Không sau đó cực hóa
thành Trứng Vũ Trụ (thái cực), rồi phân cực thành Lưỡng Nghi cực âm và cực
đương. Hai cực âm dương liên tác sinh ra Tứ Tượng. Tứ tượng vận hành sinh ra Tam
Thế muôn loài biểu tượng bằng một cây gọi là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời
Sống.

Cây Đời Sống sinh ra muôn sinh trong đó có con người. Do đó
từ SỐNG mới có nghĩa gốc là CÂY.

Con người là tiểu vũ trụ (microcosm) con của đại vũ trụ
(macrocosm). Đại vũ trụ được biểu tượng bởi Cây Vũ Trụ, con người do Cây Vũ Trụ
sinh ra nên con người đầu tiên, con người nguyên khởi (primordial being) hay
thần tổ loài người (Supreme Being) nói riêng và con người nói chung được biểu
tượng bằng hình người giống hình cây. Tôi gọi là "người-cây vũ trụ" hay người vũ
trụ. Con người có chốc (đầu) tròn ứng với chòm cây, chóp cây (chốc
biến âm với chóp, chòm, chỏm), hai tay ứng với cành (vì thế
Hán Việt chi là tay chân cũng có nghĩa là cành cây), mình thẳng đứng ứng
với thân cây, theo biến âm th = tr (như một tháng = một trăng), ta có Anh ngữ
trunk = thân và rễ cây ứng với chân. Điều này thấy rõ qua truyền
thuyết cổ Việt-Mường là Dạ Dần, Mẹ Người (Dạ là mẹ, Dần biến âm với dân, nhân
là người) là Mẹ tổ của Mường Việt nói riêng và nói chung là của cả loài người do
cây si sinh ra. Cây si thuộc họ cây đa, biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống
(người Thái ở Nghệ An có cây đa là Cây Vũ Trụ) (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình
trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Ta cũng thấy theo biến âm s=c=k, si=
ki, kì, kẻ, cây. Cây si có nghĩa cổ là “cây”, tức cây si là cây thần tổ
của tất cả loài cây nên mới có tên là si, ki, cây và vì vậy cây si mới đẻ ra
thần tổ loài người. Tín đồ Thiên Chúa tôn thờ chiêm ngưỡng cây giáng sinh vào
ngày sinh của Chúa, một vị Thần Tổ của loài người. Các tín đồ Thiên Chúa giáo có
thể hiểu nghĩa cây Noel theo một ý nghĩa nào đó nhưng hiển nhiên cây giáng sinh
mang hình ảnh của Cây Đời, Cây Vũ Trụ sinh ra Thần Tổ loài người nên mới được
chiêm ngưỡng tôn thờ trong ngày sinh của Chúa. Phật Tổ giác ngộ, thành đạo dưới
gốc cây Bồ Đề là Phật nhập vào Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống, Phật hóa
thân thành Vũ Trụ, Tam Thế.

Ở đây ta cũng thấy Mường Việt cổ (và ngày nay cũng còn thấy
ở một số sắc dân ở Việt Nam) có tục chôn người chết trong một thân cây khoét
rỗng. Con người sinh ra từ Cây Đời Sống khi chết đem chôn trong Cây để lại trở
về với nguồn sinh tạo để trở về với nguồn cội, để được tái sinh. Con người là
Tiểu Vũ Trụ sinh ra từ Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế khi chết đem chôn trong Cây để
trở về với Đại Vũ Trụ…

 

Đã hiểu rõ nghĩa của từ SỐNG có gốc nghĩa là CÂY và mang
trọn ý nghĩa của CÂY ĐỜI SỐNG bây giờ ta quay trở lại xem từ SỐNG có quả thực có
mang ý nghĩa của CÂY ĐỜI SỐNG trong Vũ Trụ Tạo Sinh không?

 

Âm dương

 

Theo duy dương sống với nghĩa là trống, là
đực, là nọc và sống là cột là nọc, là dương. Theo duy âm, sống biến âm
với sóng là nước chuyển động, sinh tạo, biến âm với sông, dòng
nước chẩy, liên hệ vơi nước là cái, là âm. Nước là mẹ của sự sống. Sống
có hai khuôn mặt nước lửa, nòng nọc, âm dương.

 

Tứ Tượng

 

-Cắt bỏ S còn lại ỐNG, ống biểu tượng cho Trục Thế
Giới
hình ống nằm trong Núi Trụ Thế Gian. Trục Thế Giới hình ống là siêu xa
lộ thông thương Tam Thế. Phần thân hình ống của trống đồng âm dương Đông Sơn
biểu tượng cho Trục Thế Giới.

-Cắt bỏ N còn lại SỐG = sóc, ta có cây đòn sóc là cây cọc
nhọn hai đầu, theo s=c (sắt = cắt), sóc biến âm với cọc. Cọc biểu tượng cho
Tượng Lửa.

-Cắt bỏ G còn lại SỐN biến âm vối cốn, côn là cây,
gậy.

Cây, gậy mang hình ảnh núi Trụ Chống Trời biểu tượng cho
Tượng Đất dương.

-Cắt bỏ NG còn lại SỐ, biến âm với sối (đổ nước) như
sối nước gội đầu, mưa sối sả và số, sối biến âm với gốc sa-
sả là nước như cỏ sảcỏ nước là thứ cỏ dùng đun nước để
tắm gội, làm nước uống (trà sả) và làm gia vị nấu ăn, lúa sạlúa
nước
mọc ngoi theo mực nước dâng lên; sa- sả liên hệ với Phạn
ngữ saras, nước. Số-, sa, sả, nước biểu tượng cho Tượng
Nước.

-Cắt bỏ S, N, G còn lại Ố, biến âm với Ô. Dưới lăng kính Tứ
Tượng, Ố, Ô, O có một khuôn mặt là không, không khí, gió
biểu tượng cho Tượng Gió.

 

Tam Thế

Nếu nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh toàn diện thì Ô
(dù) biểu tượng cho Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. Người Ngaju, Borneo
có cây dù Payong biểu tượng cho Cây Đời Sống, Cây Tam Thế. Núi Tản Viên hình
tán, hình lọng, hình ô dù biểu tượng cho Cây Tam Thế vì thế còn có tên là Núi
Tam Từng (Ba Tầng tức Tam Thế), núi Ba Vì (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Như thế từ SỐNG đem giải phẫu ra ta thấy bao gồm đủ nghĩa
âm dương, tứ tượng Lửa, Đất Nước, Gió, Cây Tam Thế, Trục Thế Giới, Cây Đời Sống
nghĩa là mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh.

 

Chắc còn có những người theo chủ nghĩa hoài nghi vẫn
chưa tin. Để thuyết phục những người này, tôi xin đối chiếu Sống
với Hán ngữ Sinh (sống). Vì Hán ngữ Sinh là một thứ chữ
tượng hình còn mang dấu tích của chữ viết nòng nọc nên ta có thể “thấy” nghĩa
bằng mắt. Từ sinh được người Trung Hoa và các vị khoa bảng ngày nay giải
tự theo kiểu “thầy đồ” theo một tầm nguyên nghĩa ngữ nào đó, nhưng tôi nghĩ cách
giải tự dựa vào các chữ ruột thịt với chữ nòng nọc còn ghi khắc lại trên giáp
cốt (trên mu rùa và trên xương) đáng tin cậy nhất. Giáp cốt văn cho thấy từ
Shèng (Sinh) có gốc nghĩa là grow (mọc) vẽ hình một chiếc cây mọc
trên mặt đất. Ta thấy rõ từ sinh có nguồn gốc từ một biểu tượng nguyên
thủy là một chiếc cây.



Từ Sinh trên
giáp cốt có nghĩa là grow (mọc) diễn tả bằng hình cây mọc trên mặt
đất
(Wang Hongyuan).

 

Vì thế tôi xin
giải tự từ Sinh bằng chữ viết nòng nọc theo Vũ Trụ thuyết.
 


Giải tự Hán
ngữ Sinh

Ta thấy rất rõ
từ Sinh gồm có ba nét ngang là chữ tam là Ba Cõi, Tam Thế, có
nét thẳng đứng như cây cột cắm trên mặt đế bằng (nét ngang lớn dưới cùng)
mang hình ảnh một cây cột trụ chống, xuyên qua chữ Tam Ba Cõi là Trục Thế Giới.
Chữ tam Ba Cõi và nét thẳng đứng Trục Vũ Trụ biểu tượng Cây Tam Thế, Cây Đời
Sống sinh ra sự sống trong đó có con người. Vì con Người là tiêu biểu của sự
Sống nên mới có thêm một nét phẩy bên trái ở nét ngang trên cùng của chữ tam.
Nét ngang có thêm dấu phẩy này chính là chữ nhân có nghĩa là
người. Rõ ràng chữ Sinh có gốc từ Cây Đời Sống sinh ra. Con người
là tiêu biểu của sự sống nên trong chữ Sinh có chữ Nhân. Ở đây ta thấy chữ nhân
nằm ở nét ngang cao nhất tức Cõi Trên cho thấy con Người ở một đẳng cấp cao
trong muôn sinh, con người đứng đầu trong muôn sinh, con Người bình đẳng với
Thượng Đế. Chữ Nhân nằm trên Trục Thế Giới cũng cho biết con người là Trung Tâm
của Vũ Trụ...

 

. . . . .
.

 

 

NHỮNG ĐIỀU TA
CÓ THỂ RÚT TỈA RA ĐƯỢC QUA PHẪU THUẬT, MỔ XẺ TIẾNG VIỆT.

 

Chỉ xin tóm gọn
ở đây.

 

.Mổ xẻ Việt ngữ
giúp ta truy tìm nguồn gốc, gốc chữ, tầm nguyên nghĩa
ngữ
của một từ, ví dụ như từ Sống ở trên.

.Một từ do nhiều
âm ghép lại. Chúng ta thường cho rằng Việt ngữ là đơn âm, ở đây cho thấy Việt
ngữ cũng có thể có một khuôn mặt đa âm.

.Một từ có nhiều
âm trong đó có những âm, những từ mang cùng một nghĩa, có thể coi như là những
từ con, từ cháu.

.Một từ do nhiều
từ ghép lại và khi những từ ghép vào có khác nghĩa với từ đem mổ thì ta có
hiện tượng lồng âm, lồng từ trong tiếng Việt.

.Khi cắt bỏ một
chữ hay nhiều chữ của một từ, phần còn lại cũng là một từ có cùng một nghĩa, tức
là nghĩa không thay đổi thì ta có hiện tượng chữ câm ví dụ cắt bỏ k của
kềnh (nằm kềnh ra đó) còn lại ềnh (nằm chềnh ềnh ra
đó
) (Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Khi cắt bỏ một
chữ hay nhiều chữ của một từ Việt, phần còn lại cũng là một từ Việt hay là một
từ thuộc một ngôn ngữ khác nhưng vẫn có cùng một nghĩa hay nghĩa lệch, nghĩa
hoán chuyển thì ta có hiện tượng chuyển âm hay biến âm lịch sử
trong tiếng Việt hay từ ngôn ngữ Việt qua ngôn ngữ khác. Ví dụ từ chết
cắt bỏ h còn cết tức Hán Việt kết liên hệ với hậu tố
-cide.

Xin lưu tâm là
qua giải phẫu cho thấy sự biến âm lịch sử và hiện tượng chữ câm có khi đi chung
trong một từ, hai hiện tượng này nằm chồng lên nhau (Tiếng Việt Huyền Diệu).

.Giải phẫu cho
thấy có thể có hai trường hợp: trường hợp thứ nhất các phần còn lại sau khi cắt
bỏ đều có cùng gốc nghĩa với từ đem giải phẫu, trường hợp thứ hai những
từ này có thể mang nghĩa biểu tượng theo các biến âm với từ gốc như trong
trường hợp từ Sống.

.Một điểm hết
sức huyền diệu nữa là ta có thể dùng phương pháp giải phẫu Việt ngữ học và
hiểu ngôn ngữ cổ
của loài người như trường hợp chữ cổ Trung Hoa (như đã thấy
qua từ Sinh ở trên), các linh tự Ai Cập cổ. Hãy lấy một ví dụ linh tự Kh. Theo
các nhà Ai Cập học, kh được diễn tả bằng hình lá nhau (placenta).

 


 

Theo tôi, không
hẳn vậy. Như đã thấy cho tới giờ ta giải phẫu cắt bỏ đầu đuôi, tay chân, thân
mình, ruột gan của từ Không mà phần còn lại vẫn có nghĩa là không
hay liên hệ với không như thế ta suy ra nếu ta cắt bỏ Ô, N, G của
từ KHÔNG, còn lại KH thì KH cũng phải có nghĩa là không (người cổ Việt
phát âm KH là gì đó ta không rõ, biết đâu người Ai Cập cổ phát âm KH giống như
người cổ Việt hay ít ra cổ Việt và Ai Cập cổ phát âm KH theo những biến âm của
nhau). Bắt buộc. Hình vòng tròn có những sọc song song nằm ngang trong
hình ngữ Ai Cập cổ Kh phải hiểu đây là biểu tượng cho hư không nước
người cổ Ai Cập gọi là Nun, Biển Vũ Trụ (hàng ngày mặt trời đi từ
đông sang tây qua Biển Vũ Trụ bằng thuyền trời solar barque). Vòng tròn có sọc
Kh là biểu tượng của hư không âm, nguồn cội, cái nôi, cái
nhau của sự sinh tạo ra muôn loài. Nên nhớ là các mẫu tự Ai Cập là những
linh tự (hieroglyph) là chữ Trời, chữ Thánh Hiền mang ý nghĩa tín ngưỡng.
Dấu tích chữ nòng nọc, chữ của Vũ Trụ giáo của Dịch thấy rất nhiều trong các
hình ngữ Ai Cập (xem Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Vì thế
vòng tròn nước Kh phải hiểu theo nghĩa chính thống của duy thần là Không, hư
không âm, còn hiểu theo “lá nhau” là hiểu theo duy tục. Kh phải hiểu theo Việt
ngữ là Không, hư không, là một mẫu tự con đẻ của chữ nòng O, hư không, không
gian của chữ nòng nọc. Ta có thể kiểm chứng lại qua linh tự kher có nghĩa
trên, bên trên, trên cao.

 

Linh tự Ai
Cập cổ kher có nghĩa là above, over.

Ta thấy rất rõ
vòng tròn có những sọc ngang song song Kh biểu tượng cho nước tức hư không,
không gian âm đi cặp đôi với hình ngữ chữ R (hình quả trám mà các nhà Ai Cập
học hiện nay gọi là cái miệng) có nghĩa là mặt trời sinh tạo, Tạo Hóa Ra, mặt
trời vũ trụ, hư không. Kh với nghĩa là hư không, vũ trụ âm nên kher mới
có nghĩa là above, over. Nhưng rõ nhất và không còn gì để tranh
luận, không còn chối cãi nữa là KH thấy trong từ cổ có gốc từ chữ nòng nọc là
KHAN (có một nghĩa theo Dịch là K’an tức Khảm, nước).


 

Rõ như “con
cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua
” là KH được diễn tả
bằng hình vòm (vòm vũ trụ, vòm trời) tức không (hư không, không
gian, không khí). Ta cũng thấy Khan gồm co Kh là vòm không gian tức hào Khôn O
dương, gió và N là sóng nước tức hào Khôn O âm. Hiển nhiên nọc mũi mác ở giữa là
hào dương. Ta có KHAN = OIO, quẻ Khảm.

Ở đây một lần
nữa ta thấy các học giả thế giới ngày nay không dựa vào chữ nòng nọc nên đã diễn
giải cổ sử thế giới lệch lạc hay theo những nghĩa duy tục ngày nay.

Tóm lại mẫu tự
Kh là cái vòng tròn có nước là Không (gian), nguồn cội, “lá nhau” của vạn vật.
Kh là Không (gian) (Tiếng Việt Huyền Diệu).

 

. . . . .
.

 

Tóm lại

 

Việt ngữ là
ngôn ngữ có thể giải phẫu được.
Giải phẫu tiếng Việt
cho thấy rõ được “ruột gan” của một từ. Mổ xẻ Việt ngữ cho biết nguồn gốc,
gốc nghĩa, gốc chữ
của một từ, cho biết hiện tượng chữ câm, biến âm lịch
sử, lồng chữ, lồng âm, tính đa âm
giúp nghiên cứu cổ ngữ Việt và cổ
ngữ thế giới
cũng như giúp truy tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài
người.

 

Giải phẫu tiếng Việt giúp thấu hiểu tường tận tiếng Việt. Giải phẫu
tiếng Việt dựa trên chữ quốc ngữ abc giúp thấu hiểu tường tận chữ quốc ng ữ.
Hãy dùng thuật mổ xẻ trong việc nghiên cứu, học và dậy tiếng Việt.

 

CẢM NHẬN MÙA HẠ ĐANG VỀ

<